Tính mạng người dân đang bị đe dọa do sạt lở




Tình hình sạt lở và xâm thực ven biển Gò Công, tỉnh Tiền Giang đang diễn ra hết sức phức tạp, nguyên nhân do gió chướng thổi mạnh, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân địa phương, đặc biệt là khu vực bắc Vàm Cửa Tiểu trên sông Tiền.



47 hộ dân ở ven biển ở ấp Tân Phú và Cầu Muống, xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông gần như bị mất hết đất không còn chỗ ở, đe dọa đến tính mạng cũng vì nước biển xâm thực, sạt lở vào đến nhà ở trong mùa gió chướng.

Đứng trước tình hình đáng lo ngại  đó nhưng dự án di dời 47 hộ dân bị sạt lở ở xã Tân Thành vào khu tái định cư đến nay vẫn chưa được thực hiện.

Theo khảo sát, có 2 vị trí bị sạt lở nặng nhất là đoạn từ nhà hàng Hương Biển (ấp Tân Phú, Tân Thành) đến kênh sau cống Tân Thành, có chiều dài 1.200m và đoạn từ khu du lịch Vạn Bình An đến khu vực ấp Cầu Muống (Tân Thành), với chiều dài 1.300m.


Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tân Thành - ông  Nguyễn Văn Minh, cho biết mùa gió chướng này, sạt lở đã xâm nhập vào sát bờ, ảnh hưởng trực tiếp đến 47 hộ dân ở đây.


Xã đã có một khu đất công để quy hoạch di dời 47 hộ này vào bên trong, đến nay dự án đã thiết kế xong nhưng việc triển khai xây dựng vẫn còn chậm, nên chưa thể di dời các hộ này vào phía trong.
[Read More...]


Bị buộc góp vốn xây nhà máy sữa, nông dân Củ Chi khổ thêm khổ



Bị buộc phải góp vốn 30 triệu để mở nhà máy chế biến sữa, nếu không các hộ chăn nuôi bò sữa tại xã Tân Thạnh Đông bị HTX bò sữa Tân Thông Hội sẽ bị ngưng mua sữa.


169 hộ dân chăn nuôi bò sữa Tân Thông Hội đã có buổi gặp mặt với UBND xã Tân Thạnh Đông (Củ Chi, TP.HCM) vào ngày 24-2. Tại buổi gặp mặt nhiều người dân bức xúc, lo lắng trước việc HTX bò sữa Tân Thông Hội yêu cầu bà con góp vốn 30 triệu đồng để HTX xây nhà máy, mở công ty và để được tiếp tục bán sữa.



Cắn răng góp vốn

Người dân góp vốn bằng hai hình thức: một là đóng tiền mặt 30 triệu đồng, hai là làm đơn xin hỗ trợ vốn lên Qũy hộ trợ vốn xã viên HTX (Thuộc Liên minh Hợp tác xã Việt Nam TP.HCM), mỗi tháng người nông dân phải tự trả góp cả vốn lẫn lời 2,3 triệu đồng. Số tiền đó sẽ được trừ vào tiền sữa, với thời hạn 18 tháng.

Anh Nguyễn Thành Lâm (ấp 8) bức xúc: “Việc ép người dân góp vốn để tiếp tục bán sữa rất vô lý. Người nông dân nuôi bò đã không có lời mà tự nhiên lại đi mắc nợ, trong khi giá sữa ngày một bấp bênh, giá trị con bò cũng ngày một xuống, dịch bệnh tùm lum, biết đến khi nào mới lấy lại số tiền đã góp chứ”. Anh Lâm chia sẻ gia đình anh đã bán sữa cho HTX bò sữa Tân Thông Hội nhiều năm nay. Ban đầu, họ thu mua sữa với giá 12.800 đồng/kg, bây giờ chỉ còn 12.000 đồng/kg, số lượng thu mua cũng sụt giảm. Nếu ngày trước HTX mua đến hơn 100 kg thì nay chỉ lấy 87kg, số sữa thừa còn lại chỉ lấy với giá 7.500 đồng/kg. Anh Lâm còn cho biết thêm “Ở đây có nhiều gia đình chỉ nuôi 1,2 con hoặc nuôi nhiều nhưng chỉ có 1,2 con đang lấy sữa thôi. Trong hai con có một con đang chửa thì chỉ còn lại một con lấy sữa, mỗi ngày giỏi lắm cho 16 kg sữa, mà giờ bắt góp vốn đến 30 triệu, đây đâu phải là số tiền nhỏ. Nếu góp vốn vào rồi lỡ bò bị bệnh sưng vú hay mất sữa thì phải làm sao. Vậy thì khổ cho người nông dân quá”.

Vì HTX bò sữa Tân Thông Hội không phân tích rõ số tiền góp này sẽ được dùng cụ thể như thế nào và được hoàn trả ra sao khiến nhiều hộ dân hoang mang, lo lắng.


Anh Nguyễn Văn Qúy (ấp 5) cho biết gia đình đang rất hoang nhưng vì muốn bán sữa nên hai vợ chồng đành lấy CMND và hộ khẩu rồi làm đơn xin vay vốn gửi cho HXT từ nửa tháng trước, tới giờ vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào. “Lúc đó HTX chỉ thông báo rằng đang mướn đất để mở công ty sữa nhưng chưa đủ vốn nên người dân phải góp vốn, nếu không sẽ bị cắt hợp đồng bán sữa đang có với HTX. Mọi người đang lo lắm không biết HTX bò sữa Tân Thông Hội có đảm bảo sẽ thu mua hết sữa và mua với giá cao như cam kết hay không. Nếu HTX giải tán hay phá sản thì số tiền người dân góp vào sẽ như thế nào. Ngày trước, tôi không có tiền mới vay 20 triệu để mua 10 con bò, nuôi đến 3 năm mà chỉ có 3 con có sữa, một số con cạn sữa thì phải bán đi"



Xã không có thẩm quyền giải quyết

Trước bức xúc của người dân,  – Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thạnh Đông - bà Dương Ngọc Loan, cho biết: “Thứ nhất, HTX bò sữa Tân Thông Hội không có trụ sở tại xã Tân Thạnh Đông mà tại xã Tân Thông Hội. Thứ hai HTX này là đơn vị tư nhân do nhiều thành viên góp vốn để hoạt động như một công ty tư nhân chứ không phải do Nhà nước mở ra. Thứ ba, giấy phép hoạt động của HTX là do UBND huyện Củ Chi cấp nên dù bà con bức xúc và yêu cầu UBND xã can thiệp nhưng việc này nằm ngoài thẩm quyền của xã”.


Bà Loan cho biết đã biết sự việc này từ lâu và đã từng báo cáo lên UBND huyện Củ Chi. UBND huyện đã yêu cầu sau Tết Bính Thân, HTX bò sữa Tân Thông Hội phải có cuộc họp với bà con Tân Thạnh Đông để giải quyết nhưng đến nay chưa thực hiện. Hiện nay khi đã nghe trực tiếp ý kiến từ bà con, UBND xã sẽ tiếp tục báo cáo về huyện để có hướng tháo gỡ.


“Về việc góp vốn với HTX bò sữa Tân Thông Hội, khi đưa tiền bà con phải yêu cầu HTX cho giấy tờ biên nhận, cam kết rõ ràng để sau này dễ dàng xác minh. Đồng thời bà con nên cân nhắc kỹ trước khi bỏ tiền góp vào HTX này, vì hiện Tập đoàn Vinamilk đã hứa sẽ hỗ trợ thu mua sữa cho người nông dân. Xã đã thông báo xuống các ấp thống kê số hộ chưa có hợp đồng để báo cáo lên huyện và có hướng hỗ trợ cho người dân” – bà Loan khuyến cáo.


Phải để dân tự nguyện, chứ không ép buộc


Phó Chủ tịch UBND huyện Củ Chi - ông Lê Đình Đức, cho biết UBND huyện đã chỉ đạo phòng Kinh tế huyện tổ chức họp với người dân và HTX Tân Thông Hội. Theo Luật HTX thì HTX là mô hình tự góp vốn và dựa trên sự tự nguyện của HTX viên. Do đó, huyện đã đề nghị HTX thành lập phương án sản xuất năm 2016 với số lượng bao nhiêu, việc góp vốn như thế nào, dựa trên tinh thần tự nguyện chứ không ép buộc. Còn chuyện mua sữa, nếu người dân có hợp đồng với HTX thì HTX mới mua, còn không có hợp đồng thì HTX không mua được. Đồng thời, huyện cũng đang tổng hợp danh sách người dân không bán được sữa để báo lại TP nhờ sự phối hợp với Vinamilk.
[Read More...]


Sóc Trăng thiệt hại hơn 11.000 ha lúa



Hiện tại có 6/11 huyện, thị xã tại Sóc Trăng bị xâm nhập mặn, nhiều vùng trồng lúa, độ mặn cao trên 10 ‰ bao gồm: Long Phú, Trần Đề, Thạnh Trị, thị xã Ngã Năm, Cù Lao Dung và huyện Mỹ Xuyên là thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng.



Theo thống kê địa phương có diện tích lúa thiệt hại nặng nhất là huyện Trần Đề  với trên 400 ha lúa bị thiệt hại do đồng ruộng khô cạn, trong đó riêng xã Lịch Hội Thượng xuống giống hơn 1.150 ha thì có đến trên 300 ha lúa bị thiệt hại trắng, thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề có hơn 23 ha bị thiệt hại trắng; huyện Mỹ Xuyên có 440 ha lúa mất trắng, còn lại là lúa bị ảnh hưởng đến năng suất…

Hàng chục ngàn ha lúa của người dân các địa phương trong tỉnh bị thiệt hại nặng nề trước tình hình hạn mặn xâm nhập, ngày 23/2, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã công bố tình trạng thiên tai do xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh.

Để hạn chế tình trạng thiệt hại do hạn mặn tiếp tục, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã chỉ đạo các địa phương vùng bị hạn mặn ảnh hưởng và các ngành chức năng phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền người dân vùng khó khăn chưa chủ động về nguồn nước không tiếp tục gieo sạ lúa Xuân hè. Theo dõi chặt chẽ nguồn nước, vận hành hệ thống cống, đập khi có nước ngọt thì mở cống lấy vào, khi độ mặn cao vượt mức cho phép phải đóng lại kịp thời hạn chế mặn vào sâu nội đồng tiếp tục gây thiệt hại cho lúa và hoa màu của người dân, đồng thời thống kê diện tích lúa đã bị thiệt hại của người dân vùng bị thiệt hại để có biện pháp hỗ trợ, giúp người dân tái đầu tư sản xuất.

[Read More...]


Hạn, mặn gay gắt ở Trà Vinh, Bạc Liêu



Độ mặn ở các nhánh sông trên địa bàn tỉnh Trà Vinh không ngừng tăng cao và lấn sâu vào các tuyến kênh thủy lợi đầu mối đã hơn một tuần nay, đe dọa gây thiệt hại nặng cho diện tích lúa Đông Xuân trong giai đoạn hơn 40 ngày tuổi.

Nước mặn tại sông Tiền và sông Hậu đã lấn sâu vào các tuyến kênh thủy lợi đầu mối hơn 60 km, độ mặn hiện tại ở các cửa cống như: Cái Hóp, Rạch Rum, Cần Chông, Láng Thé, Tân Dinh... độ mặn đã lên đến từ 5,9 – 7,8‰ là thông tin mới nhất được Đài Khí tượng thủy văn Trà Vinh cung cấp.



Nhằm đảm bảo sản xuất vụ Đông Xuân, ngành nông nghiệp tỉnh đã chỉ đạo vận hành đóng – mở cửa cống thủy lợi, theo dõi độ mặn nước để ngăn mặn, trữ ngọt từ đầu vụ. Nhưng do thời tiết nắng nóng, độ mặn tăng nhanh, không thể tiếp ngọt vào các kênh nội đồng nên hiện tại trên địa bàn các huyện Cầu Ngang, Trà Cú có hơn 50% diện tích lúa Đông Xuân, với gần 9.000 ha nằm trong tình trạng thiếu nước trầm trọng.


Phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Cú - ông Thạch Sô Phanh cho biết, đã có 6.400 ha trong hơn 11.700 ha lúa Đông Xuân của huyện đang bị khô hạn do điều kiện đất gò cao không thể tiếp nước ngọt từ kênh thủy nội đồng bị cạn kiệt; trong đó có khoảng 3.420 ha lúa tại các xã Phước Hưng, Long Hiệp, Ngọc Biên, Hàm Giang nằm trong tình trạng bị khô hạn trầm trọng, cần có nước ngọt để cứu lúa.


Ông Lê Văn Phi, Phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cầu Ngang cho biết, trên địa bàn huyện đã có trên 2.500 ha/5.200 lúa Đông Xuân đang chờ nước. Do địa bàn huyện ở cuối nguồn sông Hậu, các cống đầu mối Rạch Rum, Cần Chông buộc phải đóng cửa vì nước mặn nên tình hình tiếp nước ngọt về các kênh nội đồng để bơm tát cứu lúa Đông Xuân rất khó khăn.


Theo ông Lê Phước Dũng, Chi cục Phó Chi cục Thủy lợi thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh, để khắc phục tình trạng thiếu nước, khô hạn diện tích lúa Đông Xuân, ngành đang chỉ đạo phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn các huyện kết hợp cùng các địa phương tiến hành nhanh nạo vét các tuyến kênh cấp 3 để nâng cao mực nước trên kênh. Đối với các vùng sâu, gò cao, thực hiện phương án đắp ngăn dòng kênh nội đồng theo từng cánh đồng, sau đó bơm nước từ các kênh cấp II vào kênh nội đồng rồi bơm chuyền lên đồng cứu lúa.


Công ty TNHH MTV Quản lý khai thác các công trình thủy lợi Trà Vinh được giao nhiệm vụ theo dõi 24/24 giờ về độ mặn tại cửa công đầu mối. Tận dụng những ngày nước dâng cao (15 và 30 Âm lịch) vào lúc thủy triều đỉnh triều xuống thấp xuất hiện nước ngọt, công ty sẽ mở ngoài cửa cống tiếp nước vào nội đồng, đảm bảo đủ nguồn nước ngọt cho nông dân sản xuất hiệu quả vụ Đông Xuân./.


Trong khi đó, tại tỉnh Bạc Liêu hiện lúa Đông Xuân đang bị nhiễm bệnh và mặn xâm nhập gần 10.000 ha; trong đó có hơn 6.870 ha lúa nhiễm rầy cần phòng trừ. Nước mặn hiện đã xâm nhập sâu vào nội đồng của vùng phía Bắc de dọa đến trà lúa Đông xuân. Nước mặn rò rỉ tại các cống Cả Vĩnh, Nước Mặn và Sóc Đồn đã xâm nhập vào địa bàn xã Hưng Hội (huyện Vĩnh Lợi), có nguy cơ ảnh hưởng đến sản xuất lúa trên địa bàn xã. Thêm vào đó, nguồn nước ngọt từ sông Hậu về qua trục Quản Lộ - Phụng Hiệp giảm mạnh nên khả năng thiếu nước cuối vụ là rất lớn.


Ông Lê Quí Thủy, Trưởng Phòng Kế hoạch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, trước tình hình trên, Sở đã chủ động xây dựng kế hoạch phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô 2015 - 2016 trình UBND tỉnh phê duyệt.


Về sản xuất nông nghiệp ở vùng Bắc quốc lộ (QL) 1A, việc điều tiết nguồn nước mặn, ngọt phục vụ sản xuất dự báo sẽ rất căng thẳng. Trong bối cảnh mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông, mực nước trên trục kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp đang hạ thấp nên nước mặn từ Bạc Liêu sẽ xâm nhập lên địa bàn tỉnh Sóc Trăng vào khoảng cuối tháng 3/2016. Nếu hạn chế điều tiết nước mặn sẽ xảy ra nguy cơ thiếu nước mặn cho 67.000ha nuôi tôm ở tiểu vùng chuyển đổi sản xuất, nhất là khu vực Thị xã Giá Rai. Còn nếu điều tiết đủ nước mặn để nuôi tôm thì tiểu vùng chuyển đổi sẽ có nguy cơ mặn xâm nhập sâu vượt Ngã Năm (Sóc Trăng). Từ đó, xâm nhập vào vùng sản xuất lúa đông xuân của Sóc Trăng và 46.500ha lúa của Bạc Liêu. Mặt khác, nước mặn sẽ làm ảnh hưởng gần 9.000ha lúa đông xuân ở tam giác Ninh Quới (huyện Hồng Dân) vào cuối tháng 2/2016.


Đối với sản xuất lúa, chỉ đạo các địa phương tập trung gia cố bờ bao để giữ nước, tích cực bơm trữ nước ngọt lên ruộng. Rút ngắn lịch thời vụ bằng cách sử dụng giống lúa ngắn ngày và áp dụng biệp pháp tưới nước tiết kiệm.


Bên cạnh đó, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thủy lợi từ nguồn vốn cấp bù thủy lợi phí năm 2015. Kiểm tra lại toàn bộ hệ thống cống và xây dựng kế hoạch đắp đập ngăn mặn. Phát động nhân dân tu bổ, gia cố bờ bao, ao đầm, nạo vét kênh mương nội đồng, trữ nước chống hạn, chống xâm nhập mặn….
[Read More...]


Nông dân Đắk Lắk khốn khổ vì lò than



Hàng chục hecta cà phê bị ảnh hưởng bởi các lò than nhưng chính quyền địa phương vẫn chưa kiên quyết xử lý.

Sau khi xây dựng, 4 lò đốt than ở xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vào tháng 8-2013 đã gây cháy rụi 40 cây cà phê đang thời kỳ thu hoạch của gia đình chị Vũ Thị Nên (ngụ thôn 1, xã Ea Tiêu).



Chính quyền xã Ea Tiêu đã đến lập biên bản hiện trường, ghi nhận sự việc và đứng ra hòa giải sau khi nhận được phản ánh của  người dân. Gia đình chị Nên đồng ý nhận số tiền đền bù 3 triệu đồng với điều kiện chủ lò than phải khắc phục hệ thống ống khói để không ảnh hưởng đến cây trồng. Tuy nhiên, chủ lò chưa đền bù thì đến năm 2014, vườn chị Nên và vườn bà Nguyễn Thị Hoa (ngụ xã Cư Kuin) tiếp tục bị khói lửa của các lò than thiêu cháy nhiều diện tích cà phê.

Cuối năm 2014, các chủ lò tiếp tục xây dựng thêm 14 lò khác, bỏ mặc những khiếu nại của người dân gây thiệt hại nặng về cây trồng của 28 hộ gia đình. “Trước khi có lò than, 6 sào cà phê của gia đình cho năng suất trung bình 2 tấn cà phê nhân/năm. Từ năm 2013 đến nay, phần bị lửa thiêu rụi, phần bụi khói bám vào không thể đậu quả nên năng suất chỉ khoảng 5 tạ/năm, thiệt hại hơn 100 triệu đồng. Mới đây, gia đình phải chặt bỏ toàn bộ vì cà phê không phát triển được” - chị Nên nói.

Tương tự, ông Trần Văn Thi (ngụ xã Ea Tiêu) lo lắng vì toàn bộ nguồn sống của gia đình dựa vào gần 1 ha cà phê nhưng 2 năm qua rất ít trái. “Mới đây, gia đình phải chặt bỏ hơn 1/2 diện tích và bỏ hoang vì không cây gì sống nổi với khói bụi. Môi trường ô nhiễm nghiêm trọng, khói bụi dày đặc nên mỗi lúc đi làm là không tài nào thở được” - ông Thi bức xúc.

Ông Trần Xuân Trường, cán bộ địa chính xã Ea Tiêu, cho biết 16 lò đốt than do ông Trần Phi Dũng làm chủ đại diện. Lúc đầu, chủ lò chỉ làm nhỏ lẻ nhưng sau đó mở rộng thêm quy mô nên xã hướng dẫn các thủ tục pháp lý cần thiết như giấy phép kinh doanh và cam kết bảo vệ môi trường. Ngày 6-4-2015, UBND huyện Cư Kuin ký xác nhận cam kết bảo vệ môi trường cho ông Dũng. Qua kiểm tra cho thấy các lò than này không thực hiện đúng đề án bảo vệ môi trường như không có hệ thống phun sương, ống khói hoạt động không hiệu quả… nên phạt hành chính 4 triệu đồng.

Trước tình hình này, ngày 12-11-2015, UBND huyện Cư Kuin quyết định chấm dứt hoạt động của 6 lò đốt than vì vi phạm khoảng cách đến rẫy cà phê của dân nhưng vẫn đồng ý cho ông Dũng duy trì hoạt động 10 lò còn lại. “Trong số 6 lò bị đình chỉ thì hiện có 3 lò vẫn hoạt động nhưng chủ lò luôn vắng mặt nên rất khó xử lý” - ông Trường phân trần.
[Read More...]


Bảo vệ môi trường ở thôn, ấp






Vận động, xây dựng mô hình điểm về bảo vệ môi trường, trong đó nòng cốt là chi hội nông dân và thôn ấp là nơi tập trung để tuyên truyền. Hội  nông dân huyện Thủ Thừa (Long An) đã tạo hiệu quả rõ nét trong việc cải thiện môi trường, cảnh quan, điều kiện sống của mỗi hộ gia đình, thôn, ấp…sau khi áp dụng mô hình trên.

Môi trường từ mỗi gia đình, đường xóm cho đến ngoài đồng ruộng ở ấp 2, xã Mỹ Thạnh (Thủ Thừa) cải thiện rõ rệt từ năm 2013 đến nay. Chi hội  nông dân của ấp là lực lượng “chủ trì” trong các hoạt động bảo vệ môi trường của  nông dân. Người dân trong ấp đã có ý thức thu gom rác thải, vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật tập trung vào 2 hố rác xây dựng bằng ngân sách của xã và kinh phí hỗ trợ từ ngành nông nghiệp.



Chi hội trưởng  nông dân ấp 2 - ông Hoàng Đình Sơn cho biết: “Hầu hết các hộ dân đều làm hàng rào bằng cây xanh, tạo vẻ mỹ quan sạch đẹp cho đường làng, ngõ xóm. Chi hội  nông dân còn phối hợp vận động nhân dân góp tiền, hiến đất, trải đá mở rộng đường và trang bị hệ thống đèn chiếu sáng, đảm bảo nếp sống văn minh, an ninh trật tự trên 2 trục đường liên ấp. Những hộ dân làm nòng cốt trong mô hình bảo vệ môi trường còn tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân gia cố đê bao lửng nên đã hạn chế việc ngập úng, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp và bảo vệ môi trường”.


Tại ấp 2 xã Mỹ Thạnh đa số các hộ xây nhà tiêu hợp vệ sinh. Trong ấp còn có 4 giếng khoan đủ cung cấp nước sạch cho 100% hộ sử dụng; 21/27 hộ chăn nuôi heo xây được hầm khí biogas và nuôi cá...



Lợi ích chung cho cộng đồng



Chủ tịch Hội  nông dân huyện Thủ Thừa,ông Nguyễn Tiến Như nói: không riêng gì xã Mỹ Thạnh, các xã, thị trấn khác đều xây dựng tối thiểu 1 chi, tổ hội bảo vệ môi trường lấy làm điểm để tuyên truyền nhân rộng. Điển hình như ở ấp 1 và ấp 3 xã Mỹ An. Chi hội  nông dân ở đây đã tổ chức thu gom vỏ chai thuốc bảo vệ thực vật; trồng cây xanh, xử lý rác tại nguồn và xây hầm khí biogas trong chăn nuôi. Ở ấp 3, xã Tân Thành, chi hội còn tập hợp 11 hộ hội viên nòng cốt gắn hoạt động bảo vệ môi trường với an toàn vệ sinh thực phẩm.




Các hộ nòng cốt đi đầu trong sản xuất an toàn, tiết kiệm điện theo mô hình “3 sạch-ăn sạch, ở sạch, sản xuất sạch”. Hay như ở xã Mỹ Phú còn phát động cam kết các hộ chăn nuôi không sử dụng chất cấm, không đốt đồng gây khói ô nhiễm…Ông Như chia sẻ thêm  “Hội  nông dân tham gia chỉ đạo, hướng dẫn ở tất cả các xã, thị trấn đều phải lấy đơn vị thôn, ấp làm địa bàn tuyên truyền, vận động, xây dựng điểm về bảo vệ môi trường. Kèm với đó là xây dựng, tập hợp các hộ hội viên nòng cốt, hội viên là đảng viên đi trước để kéo phong trào chung của ấp đi lên…”.




Một trong những kinh nghiệm rút ra trong công tác bảo vệ môi trường nông thôn ở huyện Thủ Thừa là có sự tham gia chủ động, tích cực của từng hộ dân. Bà Trần Thị Láng- Bí thư chi bộ ấp 2, xã Mỹ Thạnh cho biết: “Khi người dân thấy được lợi ích của hoạt động bảo vệ môi trường thì ai cũng hưởng ứng. Lợi ích của mỗi nhà cũng là lợi ích chung của cộng đồng…”
[Read More...]


Đất nông nghiệp đang bị hủy hoại dần






Người dân xã Yên Viên mới đây phản ánh  "Ở khu vực bãi bồi ven Sông Đuống, đoạn qua địa bàn xã Yên Viên, huyện Gia Lâm hàng trăm hecta đất ruộng đang bị xẻ thịt, biến thành nhà xưởng, trạm sản xuất bê tông, ván ép và điểm tập kết, trung chuyển than cùng vật liệu xây dựng . Sự việc trên, không chỉ khiến cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp lâu dài, ổn định của người dân ngày càng bị thu hẹp, nguy cơ ô nhiễm, sụt lún tăng cao trong mùa mưa bão…!".





Khi đến khu vực thôn Cống Thôn, xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, người dân địa phương cho biết, tại khu bãi bồi ven Sông Đuống hiện tại có gần 20 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động.10 năm trước những doanh nghiệp này về xây dựng nhà xưởng và lắp đặt máy móc để sản xuất bê tông… trên đất nông nghiệp mà trước đây chính quyền đã giao cho người dân theo Nghị định 64/CP những doanh nghiệp này về xây dựng nhà xưởng và lắp đặt máy móc để sản xuất bê tông… trên đất nông nghiệp mà trước đây chính quyền đã giao cho 10 năm trước}. Đáng quan tâm, bên cạnh những đơn vị sản xuất cũ thì gần đây tại khu vực liên tục xuất hiện các nhà xưởng, điểm tập kết VLXD  mới. Cụ thể, là bãi cát của HTX Cầu Đuống, HTX Thành Đoàn, Công ty TNHH Minh Hạnh, Công ty cổ phần Xây dựng thương mại Đức Mạnh và doanh nghiệp tư nhân Minh Đức…


Hằng ngày,tàu thuyền, máy xúc, ô tô ra vào, hoạt động kinh doanh tấp nập, khiến cho môi trường quanh khu vực chỗ nào cũng mù mịt đất cát, khói bụi tại các bãi VLXD.

Do phải "oằn mình" chống đỡ các phương tiện cơ giới trọng tải lớn ra vào nên hệ thống đường giao thông dưới chân Đê Đuống chỗ nào cũng mấp mô, lồi lõm, xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống đường giao thông dưới chân Đê Đuống chỗ nào cũng mấp mô, lồi lõm, xuống cấp nghiêm trọng do Do phải "oằn mình" chống đỡ các phương tiện cơ giới trọng tải lớn ra vào.  Đến nay
hầu hết các đơn vị trên vẫn chưa đủ các thủ tục về pháp lý trong việc kinh doanh cũng như sử dụng đất. Trong đó, một số đơn vị hoạt động không có giấy phép từ nhiều năm nay như HTX Thành Đoàn, hợp tác xã Cầu Đuống, Công ty Bê tông Vinh Huy...

Anh Trần Văn Mạnh cư ngụ ở xã Yên Viên thì toàn bộ diện tích đất bãi bồi nói trên cách đây 10 năm người dân địa phương vẫn canh tác, sản xuất hiệu quả. Chỉ đến khi các doanh nghiệp đổ xô kéo về xây dựng nhà xưởng, sản xuất, buôn bán vật liệu xây dựng  thì hoạt động sản xuất có phần kém đi. Thời gian gần đây, do nước sông cạn, không bồi đắp đủ lượng phù sa nên việc sản xuất nông nghiệp lại càng khó khăn. Vì việc canh tác không hiệu quả, dần dần một số hộ đã bán hoặc cho các doanh nghiệp thuê lại sử dụng vào mục đích khác. Bên cạnh đó, một số diện tích đất công, thùng đào, hố đấu để hoang hóa từ nhiều năm nay cũng được UBND  xã Yên Viên đứng ra ký hợp đồng cho các hộ kinh doanh thuê với giá từ 10 đến 15 nghìn đồng/m2/năm. Các doanh nghiệp tập trung kinh doanh, sản xuất tại đây đa số là của người dân địa phương, chỉ có một số ít là của người từ nơi khác đến.

Khi được hỏi về việc xử lý những vi phạm của các tổ chức, doanh nghiệp đóng trên địa bàn, ông Nguyễn Văn Kỷ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân  xã Yên Viên cho biết, địa phương đã kiểm tra và đình chỉ việc mở rộng, xây dựng nhà xưởng trái phép của các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp chưa có giấy phép kinh doanh, chính quyền cũng đã rà soát và yêu cầu hoàn thiện các thủ tục pháp lý theo quy định. Nếu sang năm 2016, các đơn vị này không xuất trình được các văn bản liên quan đến việc sử dụng đất và giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp, UBND  xã sẽ xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.

Có thể thấy được trong thời gian qua công tác quản lý đất đai trên địa bàn xã Yên Viên đã bị buông lỏng. Vì sao hàng trăm héc ta đất nông nghiệp lại có thể được mua bán, chuyển đổi thành nhà xưởng, kho bãi một cách dễ dàng?

[Read More...]


Khai thác tài nguyên hay phá hoại môi trường ?



Đắk Nông có nguồn khoáng sản kim loại và phi kim khá phong phú và phân bố trên diện rộng. Nhiều nhất là khoáng sản bauxit với trữ lượng hàng tỉ tấn được phân bố thành những mỏ lớn ở thị xã Gia Nghĩa, các huyện Đắk Song, Đắk R’lấp, Đắk Glong và Tuy Đức.

Ngoài ra cũng có những loại khoáng sản với số lượng nhỏ hơn nhưVônfram, ăngtimoan và các loại vàng sa khoáng, đá quý phân bố ở một số địa phương với quy mô mỏ nhỏ và điểm khoáng. Các loại khoáng sản phi kim gồm các loại đá: Bazan, Granit, khoáng vật thạch anh, cao lanh, các loại đá xây dựng, sét, cát, than bùn.



Qua công tác điều tra, đánh giá và lập bản đồ địa chất khoáng sản tập trung chủ yếu nhóm khoáng sản quặng bauxít và quặng sắt laterit còn các khoáng sản khác vẫn chưa chưa được quan tâm là thông tin do Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Đắk Nông cung cấp. Do đó, tỉnh vẫn chưa đánh giá một cách đầy đủ về trữ lượng và chất lượng các loại tài nguyên và cũng chưa quy hoạch được các vùng khai thác khoáng sản. Tình trạng khai thác khoáng sản không có giấy phép đã xảy ra, đặc biệt tại những vùng sâu vùng xa, gây lãng phí và thất thoát tài nguyên, làm giảm diện tích đất canh tác, phá vỡ cảnh quan thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường.

Có nhiều tổ chức và cá nhân đã tập trung khai thác cát với quy mô lớn  trên sông Krông Nô (huyện Krông Nô) trong thời gian qua. Tình trạng trên, đã làm nhiều đoạn bờ sông bị sạt lở, diện tích đất canh tác và cây rừng bị hủy hoại, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của người dân địa phương.Tại huyện Krông Nô trong thời gian qua, trên sông Krông Nô có 9 cá nhân, tổ chức đã hoạt động khai thác cát xây dựng. Trong đó, có 3 tổ chức khai thác có phép, còn 6 tổ chức, cá nhân khai thác cát trái phép từ năm 2014. Các đối tượng khai thác cát trái phép nhiều nhất chủ yếu là đoạn sông chảy qua xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô. Việc hút cát từ dòng sông đã gây sạt lở bờ sông nghiêm trọng, làm biến dạng dòng chảy, mất đất sản xuất của người dân, gây ô nhiễm môi trường nước và thất thoát tài nguyên.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Buôn Chóah - ông Dương Văn Lực cho biết: tình trạng khai thác cát trên sông Krông Nô đã diễn ra nhiều năm nay, gây ảnh hưởng xấu đến địa phương. Chính quyền và người dân đã kiến nghị nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa dứt điểm. Lực lượng chức năng của Đắk Nông đã tổ chức các đợt tuần tra, truy quét, bắt giữ và xử lý nhiều phương tiện tàu, sà lan khai thác cát trái phép. Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Đắk Nông, từ năm 2010 đến nay, tỉnh Đắk Nông đã phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi khai thác cát trái phép 16 vụ, 17 đối tượng, tịch thu 1 sà lan hút cát và phạt tiền 380 triệu đồng.

Tình trạng khai thác vàng sa khoáng khá phổ biến tại các xã vùng sâu của huyện Đắk Glong như Đắk R’măng, Quảng Hòa trong nhiều năm nay. Việc đào bới tìm vàng gốc và đào đãi vàng sa khoáng ở những vùng này đã hủy hoại một số diện tích rừng, làm xói lở bờ sông suối, hủy hoại và thu hẹp đất canh tác nơi ven suối và các bãi bồi. Những tháng mùa khô, nguồn nước tại các khe suối bị ô nhiễm, không sử dụng cho việc tưới cà phê và các loại cây trồng. Những người đào vàng sử dụng máy múc, máy ủi và nhiều phương tiện để thực hiện hút cát, đào hầm xẻ núi tìm vàng khiến hàng chục ha rừng bị tàn phá. Cụ thể, Công ty TNHH Thành Trung (đóng tại xã Nam Đà, huyện Krông Nô) lợi dụng việc cấp phép phổ tra tài nguyên trên diện hẹp tại xã Quảng Hòa (huyện Đắk Glong) đã tổ chức khai thác vàng gốc, vàng sa khoáng một cách tùy tiện và ồ ạt, gây thất thoát tài nguyên và hủy hoại rừng và làm suy giảm đa dạng sinh học ở trong vùng. Tại khu vực có vàng sa khoáng xã Quảng Hòa, một số đối tượng khai thác vàng trái phép thậm chí sẵn sàng dùng hung khí chống người thi hành công vụ. Vừa qua, đoàn cán bộ xã Quảng Hòa đã bị một nhóm đối tượng côn đồ sử dụng hung khí vây đánh trọng thương và phải nhờ công an huyện can thiệp, đoàn cán bộ xã mới được giải thoát...


Trưởng phòng khoáng sản và tài nguyên nước, Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Đắk Nông ông Nguyễn Hữu Trung cho biết, công tác thanh tra, kiểm tra khoáng sản tuy đã được tiến hành thường xuyên và có các biện pháp xử lý vi phạm, nhưng việc giám sát thi hành có lúc chưa sát sao. Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh chưa thật sự kiên quyết, xử lý chưa dứt điểm, nên vẫn còn tình trạng khai thác khoáng sản trái phép tái diễn trên địa bàn tỉnh trong thời gian vừa qua. Mặt khác, các khu vực có khoáng sản khai thác trái phép đều nằm ở vùng sâu, vùng xa điều kiện đi lại khó khăn. Một số điểm khai thác khoáng sản trái phép nằm trong lâm phần quản lý của các công ty lâm nghiệp, các đơn vị trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên, trách nhiệm của các đơn vị này còn hạn chế nên việc ngăn chặn, tố giác các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép chưa cao. Cũng theo ông Trung, thời gian tới ngành Tài nguyên - Môi trường sẽ tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, kiểm tra xử lý nghiêm minh, triệt để các trường hợp khai thác khoáng sản trái phép.


Với tình hình khai thác khoáng sản vượt tầm kiểm soát như hiện nay, tỉnh Đắk Nông cần lập lại trật tự khai thác và sử dụng khoáng sản, nhằm giữ gìn nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đất canh tác và bảo vệ môi trường. Trước mắt tỉnh cần khẩn trương khảo sát, tìm kiếm, đánh giá, quy hoạch vùng tài nguyên để khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản một cách hợp lý. Những địa bàn sau khi khai thác khoáng sản, cần phải bồi hoàn lại mặt bằng, phục hồi dần cảnh quan sinh thái và môi trường.
[Read More...]


Tỉnh nghèo lãng phí đất



Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định cho Công ty Thiện Tài thuê gần 3.500 m2 đất mặt tiền đường Nguyễn Sỹ Sách (chợ thực phẩm cũ), phường Hưng Phúc, TP Vinh để xây dựng trung tâm thương mại - khách sạn từ tháng 4-2009. Sau khi được giao đất, Công ty Thiện Tài liền giải tỏa chợ thực phẩm khiến gần 180 hộ tiểu thương hết chỗ kinh doanh mặc cho gần 6 năm nay, khu đất vẫn bỏ hoang.


Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hưng Phúc - ông Nguyễn Quang Việt bức xúc:“Chủ đầu tư lấy đất, giải tỏa chợ, hứa sẽ xây dựng trung tâm thương mại rồi bố trí lại chỗ kinh doanh cho tiểu thương. Ai ngờ họ ôm đất rồi bỏ hoang từ năm này sang năm khác khiến tiểu thương rất bất bình”.

Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cũng quyết định giao lô đất gần 4.600 m2 tại số 3 Trần Phú, số 2 Ngư Hải và trên đường Thái Phiên, phường Lê Mao, thành phố Vinh cho một doanh nghiệp thực hiện dự án xây dựng trụ sở làm việc vào năm 2006 trước đó. Sau khi được bàn giao mặt bằng, chủ đầu tư dự án này án binh bất động đến nay. Ông Nguyễn Tam Kỳ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Lê Mao, cho biết: “Trong lúc phường thiếu đất để xây dựng trường học thì khu đất đẹp, nằm giữa trung tâm thành phố, tỉnh giao cho doanh nghiệp nhưng họ lại bỏ hoang”.

Tuyến đường trung tâm đẹp nhất thành phố Vinh -trên đại lộ Lê Nin có nhiều khu đất được quy hoạch giao cho các chủ đầu tư hàng chục năm nhưng hiện tại vẫn chỉ là bãi đất trống. Trong đó, khu đất rộng trên 50.000m2 tại số 1 đại lộ Lê Nin được quy hoạch xây dựng trung tâm hành chính tập trung của tỉnh Nghệ An nhưng 10 năm nay chỉ để cỏ dại mọc. Một khu đất khác rộng gần 52.000 m2 được tỉnh Nghệ An giao cho một đơn vị vào năm 2009 để xây dựng dự án công viên phần mềm với tổng kinh phí trên 83 triệu USD. Sau 6 năm, dự án này cũng đang nằm trên giấy...

Tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, hàng loạt dự án được cấp đất nhiều năm nhưng chủ đầu tư cũng không triển khai. Đất bị bỏ hoang trở thành điểm xả rác, bãi chăn bò của người dân!
[Read More...]


Tích cực phòng cháy, chữa cháy tại rừng U Minh Hạ




Do ảnh hưởng nghiêm trọng của El Nino, công tác phòng, chữa cháy rừng mùa khô 2015 - 2016 được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn trước. Tại Vườn quốc gia U Minh Hạ có diện tích hơn 8.500 ha, với kết cấu rừng tràm trên nền đất than bùn, nếu để phát sinh cháy sẽ dẫn đến cháy lớn và âm ỉ rất khó dập tắt triệt để.


Hiện tại, tỉnh Cà Mau đang chủ động thực hiện các phương án phòng, chữa cháy rừng nhanh chóng, quyết liệt nhằm bảo vệ tối đa Vườn quốc gia U Minh Hạ.


Giám đốc Vườn Quốc gia U Minh Hạ - ông Huỳnh Minh Nguyên cho biết, hiện nay mực nước trong Vườn Quốc gia U Minh Hạ cao hơn so với cùng thời điểm mùa khô năm 2014 -2015 từ 20 - 40 cm. Nhưng đơn vị vẫn chủ động khai thông 5km đường giao thông thủy; hệ thống thông tin, nhân lực, phương tiện phục vụ công tác phòng, chữa cháy rừng đang hoạt động tốt.


Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ - ông Trần Văn Hiếu cho biết: “Công ty hiện có 5 tiểu khu, với 25.000 ha, trong đó đất có rừng trên 20.000 ha. Đơn vị đã đắp 21 đập lớn, nhỏ để giữ nước trên toàn tuyến, 20 tổ bơm công suất lớn của đơn vị được đảm bảo. Ngoài ra, đơn vị còn chủ động phối hợp cùng 4 đơn vị đóng trên địa bàn với 24 tổ máy bơm. Đến thời điểm này, đơn vị đã sẵn sàng và chủ động trong phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2015-2016”.


Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cũng kết hợp với Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy - Công an tỉnh tiến hành diễn tập thực địa theo tình huống với sự tham gia của các đơn vị tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ nhằm đảm bảo có thể ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra.


Theo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải: Bảo vệ rừng tràm là nhiệm vụ cấp bách, cần được thực hiện một cách nghiêm ngặt; đồng thời cần đề cao vai trò của cơ quan kiểm lâm, các chủ rừng trong chủ động xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng. Tuy nhiên với dự báo mùa khô kéo dài, các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng cần có sự liên kết, hỗ trợ chặt chẽ hơn nữa. Liên quan đến sử dụng đất rừng, các địa phương, đơn vị cần quan tâm chỉ đạo quyết liệt nhằm tìm các giải pháp tháo gỡ những tồn tại gây khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và ảnh hưởng đến sản xuất của người dân.

Kinh nghiệm trong công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng những năm qua tại Cà Mau cho thấy, sự phối kết hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các đơn vị có liên quan với các huyện có lâm phần rừng như U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình nhằm tổ chức tốt công tác tuyên truyền vận động người dân vẫn là cốt yếu nhất. Từ đó, công tác tổ chức xây dựng lực lượng làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, bảo vệ rừng bằng hình thức vận động người dân tham gia với dạng hợp đồng, vào những tháng cao điểm của mùa khô sẽ phát huy tác dụng. Bên cạnh đó, chính sách giao đất giao rừng cho người dân sống ven vườn quốc gia U Minh Hạ cũng đang phát huy hiệu quả khi đa phần người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của rừng đối với đời sống của chính mình, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ .
[Read More...]


Giải pháp ứng phó với các kịch bản phát triển Mê Kông





Từ các kịch bản phát triển của các quốc gia láng giềng, Việt Nam rất cần có các giải pháp ứng phó và hạn chế tối đa nguy cơ trở thành nạn nhân của những tính toán, sắp đặt trái với tinh thần hợp tác phát triển trong lưu vực.


Bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng nối liền 6 quốc gia Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam. Sông Mê Kông với chiều dài khoảng 4.800km, con sông quốc tế này tạo ra nhiều sinh cảnh độc đáo, hệ sinh thái đất ngập nước vô cùng phong phú, đa dạng và nhiều vùng châu thổ phì nhiêu. Hệ sinh thái này đã mang lại nhiều nguồn lợi cho các quốc gia và người dân sinh sống trong lưu vực. Theo ước tính, khoảng 60 triệu người hạ lưu vực đang phụ thuộc các vùng đất ngập nước thuộc lưu vực sông Mê Kông trong sản xuất nông nghiệp, đánh bắt thủy sản và các hoạt động phục vụ sinh kế khác (MRC, 1997).


Sông Mê Kông vẫn còn giữ được nhiều nét nguyên vẹn do chưa bị ngăn đập trên phần lớn dòng chảy đến cuối thế kỷ 20. Tuy nhiên, lưu vực sông Mê Kông trong thời gian gần đây trở nên ngày càng sôi động với nhiều diễn biến phát triển nóng gây không ít tranh cãi. Dòng sông quốc tế này đang chứng kiến xu thế cạnh tranh với tâm điểm là việc sử dụng nguồn nước của mỗi quốc gia phục vụ nhu cầu phát triển của riêng mình đi đôi với những hậu quả và thách thức tiềm tàng cho các quốc gia khác.



Bối cảnh phát triển lưu vực sông Mê Kông


Từ những năm cuối thế kỷ 20 các nền kinh tế mới nổi trong khu vực và một Trung Quốc đang trỗi dậy đứng trước cơn khát năng lượng phục vụ nhu cầu tăng trưởng nóng. Ngành thủy điện trở thành tâm điểm của các chiến lược đầu tư mới của cả chính phủ và khu vực tư nhân. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên hủy hoại sự nguyên vẹn của con sông Mê Kông với kế hoạch xây dựng ít nhất 7 đập thủy điện trên dòng chính phía thượng nguồn từ cuối những năm 1990. Ngoài ra, hệ thống các dòng nhánh của sông Mê Kông cũng đã và đang được khai thác cho thủy điện. Dự tính đến năm 2030 sẽ có thêm 30 đập thủy điện nữa được triển khai trên các dòng nhánh.


Ở hạ nguồn, Lào là quốc gia đầu tiên trong 4 thành viên của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế thông báo kế hoạch xây đập thủy điện dòng chính, với "phát đại bác khai hỏa" đầu tiên phá vỡ sự yên bình ở phía hạ nguồn là thủy điện Xayaburi đựợc khởi công năm 2012, tiếp sau là Don Sahong và Pak Beeng và tiếp sau là hàng loạt các dự án dòng chính khác đã được lên kế hoạch xây dựng.


Trong những năm gần đây việc gia tăng dân số trong lưu vực và biến động giá cả lương thực đã thúc đẩy các quốc gia đầu tư mạnh mẽ hơn cho cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển và mở rộng sản xuất nông nghiệp. Lào dự định tăng diện tích tưới tiêu vào mùa khô từ 100.000 hecta/năm lên 300.000 hecta/năm trong vòng 20 năm tới. Campuchia cũng có tham vọng mở rộng sản xuất lúa và cần mở rộng diện tích tưới. Thái Lan đã có kế hoạch từ khá lâu với tham vọng chuyển nước từ dòng chính để giảm hạn hán ở khu vực Đông Bắc. Các hoạt động kinh tế khác khai thác lợi thế của sông Mê Kông bao gồm phát triểnnuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, quản lý lũ lụt và du lịch


Theo Nghiên cứu công bố năm 2011 của Viện Giải pháp Bền vững thuộc Đại học Portland (Mỹ) phối hợp với Đại học Mae Fah Luang (Thái Lan) thực hiện cho thấy trong tất cả các kịch bản phát triển, Lào luôn ở vị thế hưởng lợi lớn nhất, còn các quốc gia khác trong lưuvực hạ Mê Kông là bên bị thiệt hại.


Trong đó, các dự án chuyển nước của các quốc gia thượng lưu kết hợp với sự hoạt động của đập thủy điện sẽ làm gia tăng sự thiếu hụt nguồn nước ở các quốc gia hạ lưu, trong đó Việt Nam nằm cuối cùng hạ lưu sẽ chịu tác động nặng nề nhất. Thêm vào đó, khi thiếu nguồn nước từ sông Mê Kông đổ về sẽ tạo điều kiện cho xâm nhập mặn từ biển Đông lấn sâu vào đất liền. Thời gian xâm nhập mặn sẽ đến sớm hơn và kéo dài hơn vào mùa khô khi nguồn nước sông Mê Kông đến khu vực hạ lưu bị suy giảm.



Việt Nam và huyết mạch Mê Kông


Phần lãnh thổ Việt Nam nằm trong lưu vực Mê Kông chiếm khoảng 8% diện tích lưu vực và đóng góp khoảng 11 % tổng lượng nước. Phần lãnh thổ này bao gồm thượng nguồn sông Nậm Rốn (Điện Biên), thượng nguồn sông Sê Kông và Sê Ba Hiêng, lưu vực sông Sê San và Srepok và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Việt Nam có hơn 20 triệu người dân sống trong lưu vực sông Mê Kông (hơn 17 triệu ở đồng bằng sông Cửu Long và 3 triệu ở Tây Nguyên).


Phần lớn dân số phụ thuộc vào nguồn sinh kế nông nghiệp và thủy sản – liên quan mật thiết đến nguồn tài nguyên nước. Nguồn lợi từ sông Mê Kông và các dòng nhánh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người nghèo, 75% trong số họ sống phụ thuộc vào sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản. Tại khu vực Tây Nguyên, nguồn nước của lưu vực sông Sê San và Srêpok đã được khai thác khá triệt để phục vụ cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và phát triển thủy điện.


Khu vực đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên 3,9 triệu hecta, trong đó 75% đã được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp. Ngoài chức năng là vựa lúa của cả nước, khu vực này cũng là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất Việt Nam với 71% diện tích nuôi, 72% sản lượng và 75% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản.


Đồng bằng sông Cửu Long đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và tăng trưởng kinh tế cho cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động mạnh mẽ từ nguồn nước sông Mê Kông, trong đó lũ là yếu tố quan trọng nhất. Mỗi năm, khu vực này có từ 1,3-1,5 triệu hecta bị ngập lũ. Dưới tác động của dòng chảy và chế độ lũ, các hoạt động kinh tế - xã hội bị ảnh hưởng, đất nông nghiệp bị xâm nhập mặn và chua phèn, các hoạt động sản xuất nông nghiệp bị cản trở. Bên cạnh đó, lũ cũng có nhiều mặt tích cực đối với sự hình thành và phát triển của đồng bằng sông Cửu Long. Con sông Mê Kông mang về cho đồng bằng nguồn phù sa màu mỡ và nguồn thủy sản tự nhiên giàu có.


Giải pháp ứng phó với các kịch bản phát triển



Dòng chảy của con sông Mê Kông có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung. Do sự liên quan mật thiết giữ các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của các tiểu vùng và tổng thể lưu vực sông Mê Kông, những động thái phát triển thượng nguồn và thay đổi dòng dảy sẽ dẫn đến nhiều tác động về môi trường và xã hội ở phía hạ nguồn. Điều đó, có thể khẳng định rằng Việt Nam gặp rất nhiều bất lợi trong bài toán phát triển sông Mê Kông. Diễn biến phát triển lưu vực sông Mê Kông trong thời gian vừa qua cho thấy đây không đơn thuần là bài toán đánh đổi giữa lợi ích kinh tế và môi trường – xã hội. Mặc dù các quốc gia thành viên Ủy hội sông Mê Kông đã nhất trí hợp tác với tinh thần “đáp ứng nhu cầu, giữ sự cân bằng để hướng tới sự phát triển bền vững của lưu vực sông Mê Kông” nhưng những động thái gần đây ở phía thượng nguồn cho thấy thực tế còn rất nhiều thách thức khi mà mỗi bên đều chỉ cố gắng bảo vệ quyền lợi riêng của mình.


Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần sẵn sàng cho mọi kịch bản phát triển lưu vực khi mà chúng ta không có nhiều lựa chọn do ở vị trí cuối nguồn. Trên cơ sở nhận định tình hình khu vực và bối cảnh hiện tạo, các giải pháp ứng phó của Việt Nam có thể thực hiện bao gồm: duy trì và tăng cường hợp tác Mê Kông thông qua Ủy hội sông Mê Kông quốc tế.


Việt Nam cần tích cực thúc đẩy tăng cường sức mạnh của Ủy hội và các cơ chế của Ủy hội trên cơ sở hợp tác với các quốc gia thành viên, các đối tác phát triển và các nhà tài trợ.


Hai là, đầu tư nâng cao năng lực tổ chức cho Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam với đầy đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình, dự án nghiên cứu, giám sát tác động, tìm kiếm giải pháp nhằm tham vấn kịp thời cho Chính phủ trong hoạch định chính sách và hợp tác với các quốc gia trong lưu vực.


Ba là, tích cực tạo sự đồng thuận trong việc định hướng mô hình phát triển của lưu vực Mê Kông và trong cộng đồng ASEAN. Theo đó, cần hướng đến mô hình phát triển giảm thiểu phát thải, giảm thiểu tiêu thụ năng lượng, sử dụng khôn khéo tài nguyên thiên nhiên.


Bốn là, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong nghiên cứu, phổ biến thông tin, thúc đẩy hợp tác, đối thoại ở cấp quốc gia và khu vực nhằm tạo sự ủng hộ, đồng thuận của xã hội trong bảo vệ lợi ích chung của người dân trong lưu vực nói chung và Việt Nam nói riêng.


Năm là, tăng cường hợp tác với cộng đồng các nhà tài trợ và đối tác phát triển của Lào và Campuchia nhằm hỗ trợ nước bạn tìm kiếm các giải pháp phát triển tối ưu, bền vững, phù hợp với tinh thần hợp tác giữa các quốc gia trong lưu vực.


Sáu là, sử dụng một cách hiệu quả các công cụ đầu tư và hỗ trợ phát triển để phục vụ mục tiêu các bên đều có lợi.
[Read More...]


Làng nghề Quảng Thắng, ô nhiễm môi trường trong mức báo động





Đến làng nghề chế biến đá mỹ nghệ Ở phường Quảng Thắng, TP Thanh Hóa khi đến với làng nghề chế biến đá sẽ dễ dàng bắt gặp nước thải bột đá từ phía trong các xưởng đều được xả thẳng ra phía ngoài hàng rào cũng là ruộng vườn của người dân. Người dân sống quanh khu vực làng nghề khốn khổ vì tiếng ồn, vì bụi đá, nhà nứt, ruộng thì biến thành ao.





Đi vào hoạt động từ năm 2010, làng chế tác đá mỹ nghệ ở phường Quảng Thắng, không chỉ ở Quảng Thắng mà người dân xã Đông Hưng (TP Thanh Hóa) cũng cùng chung số phận. Máy cưa, máy xẻ chậy ầm ầm bất kể ngày đêm khiến nhà cửa của nhiều hộ bị rạn nứt. Nước bột đá chảy tràn lan vào 24 hộ dân ở thôn Nam Hưng, xã Đông Hưng khiến vườn, ao biến thành bãi thải. Có những hôm trời mưa to nước bột đá còn tràn vào tận sân. Bức xúc trước thực trạng ấy, người dân đã nhiều lần khiếu nại lên các ngành chức năng nhưng rồi họ vẫn phải điêu đứng vì tình trạng ô nhiễm ngày càng nặng nề.


Nhiều công ty, doanh nghiệp khai thác và chế biến đá trong khu vực làng nghề đá Quảng Thắng, chưa có bể lắng động theo đúng quy chuẩn, nước bột đá chảy ra phía sau kênh của làng nghề trong tình trạng quá tải lại tràn lênh láng ra ruộng vườn của người dân. Việc thu gom và phân loại xử lý chất thải rắn còn nhiều bất cập, chủ yếu mang hình thức đối phó. Một số doanh nghiệp không lập báo cáo tác động và cam kết bảo vệ môi trường, không nộp phí bảo vệ môi trường; đổ lấp chất thải rắn không đúng qui định. Công nhân không được trang bị thiết bị bảo hộ lao động thích hợp và đang trực tiếp hít bụi tiềm ẩn nguy cơ có hại cho sức khỏe.

Ông Đoàn Văn Đặng, thôn Nam Hưng, xã Đông Hưng chia sẻ: "Từ khi các xưởng chế biến đá về đây cuộc sống của chúng tôi bị đảo lộn hoàn toàn. Máy cưa, máy xẻ gầm rú chạy cả ngày lẫn đêm khiến người già thì mất ngủ, trẻ em không thể học bài. Cái ao trước nhà trước đây thả cá và trồng rau muống, nhưng giờ bột đá phủ kín không thể cải tạo nổi. Gia đình đã phải bỏ tiền bỏ sức đào mương nước thoát ra sông nhà Lê nếu không vào mùa mưa sẽ ngập lên tận nhà. Những hôm trời mưa to nước mưa kèm với bột đá ngập vào tận sân. Nhất là mỗi khi xe đổ đá là như động đất, nhà cửa rung bần bật. Đã nhiều lần chúng tôi kiến nghị lên xã, nhưng thực trạng ô nhiễm vẫn không được giải quyết. Tôi vừa phải đi điều trị dài ngày ở viện về vì bệnh ho. Nếu các doanh nghiệp không có biện pháp xử lý môi trường thì người dân chúng tôi cũng sẽ chết vì ô nhiễm".

Bà Nguyễn Thị Thăng, phố 7 (phường Quảng Thắng) cho biết: "Tôi có mấy gian nhà đã nứt toác vì xe đổ đá, mỗi lần đổ đá là tôi phải chạy ra ngoài vì sợ nhà sập. Ruộng vườn giờ không thể canh tác nữa vì bột đá phủ kín. Chưa kể là ô tô vận tải cỡ lớn ngày đêm chở đá trắng vừa phá đường, vừa gây bụi mịt mù. Không hiểu vì sao tỉnh lại quy hoạch làng nghề nằm ngay giữa khu dân cư, những người dân đen như chúng tôi khốn khổ trăm đường".



Ông Đỗ Anh Bắc - Phó chủ tịch phường Quảng Thắng cho biết: “Đúng là rất bất cập nhưng không thể nói vì làng nghề nằm trong quy hoạch của tỉnh. Trước mắt, thì sẽ hạn chế làm giờ cao điểm nhưng hạn chế làm đêm sẽ là khó vì điện đêm giá rẻ. Về lâu dài, chính quyền sẽ báo cáo với các cấp có thẩm quyền để di chuyển. Đồng thời yêu cầu các cơ sở đảm bảo các tiêu chí môi trường”.
[Read More...]


Kiểm tra công tác môi trường tại dự án nuôi bò lớn nhất cả nước






Công ty Cổ phần bò sữa Tây Nguyên là một trong những Công ty con của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đặt tại xã Ia Băng, huyện Chư Prông (Gia Lai) được đánh giá là dự án nuôi bò lớn nhất nhì trên cả nước. Vì vậy việc đảm bảo các vấn đề về môi trường được quan tâm ngay từ đầu, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai đã có buổi kiểm tra về công tác bảo vệ môi trường của dự án này.



Trại nuôi bò thiết kế hai chuồng đối diện nhau nhưng chỉ có 1 đường thoát nước thải


Tháng 6/2015 dự án bắt đầu đi vào hoạt động và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dự án phát sinh một số loại chất thải như nước thải, chất thải rắn, khí thải, mùi hôi. Nước thải sinh hoạt được thu gom xử lý bằng bể tự hoại 3 ngăn, nước thải sản xuất từ quá trình chăn nuôi được thu gom riêng và cho chảy vào hệ thống nước thải tập trung. Chất thải rắn chăn nuôi, chủ yếu là phân bò với khối lượng khoảng 200 m3/ngày (quy mô 23.000 con) được thu gom và bán cho các đơn vị có nhu cầu. Khí thải và mùi hôi phát sinh từ phân và nước thải thì sử dụng chế phẩm sinh học để hạn chế mùi hôi.




Vào tháng 7/2015, Đoàn kiểm tra Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai nhận được phản ánh của người dân về sự cố môi trường xảy ở đây , do mưa lớn nên hồ chứa nước thải của dự án bị vỡ, khiến nước thải chảy tràn ra môi trường, làm ảnh hưởng đến một số khu vực xung quanh. Khi nước mưa chảy tràn kèm theo phân bò của trang trại đã chảy theo thung lũng về hệ thống nước của hồ thủy lợi Hoàng Ân. Phần nước thải còn lại chảy theo đường lô của dự án kéo dài khoảng 500 m xuống vùng trồng cà phê của một số hộ dân. Lượng phân bò nhiều, để lâu ngày nên đã làm chết khoảng vài chục gốc cà phê. Bên dưới rẫy cà phê có một số diện tích ruộng lúa của người dân địa phương cũng bị ảnh hưởng năng suất do nước phân bò của dự án tràn xuống.






Là dự án nuôi bò lớn nhất nhì trên cả nước, vì thế, việc bảo vệ môi trường cần phải được quan tâm ngay từ đầu. Tuy nhiên, việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án vẫn chưa được xác nhận. Dự án chưa được cấp Giấy phép khai thác sử dụng nước ngầm, nước mặt; chưa được cấp Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; chưa thực hiện giám sát môi trường định kỳ. Các loại chất thải nguy hại như chai lọ, thuốc thú y, kim tiêm thải, dầu mỡ thải… đã được thu gom nhưng chưa đúng theo quy định.




Mặc dù, Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt bao gồm các hạng mục như hệ thống xử lý nước thải, nhà ủ phân, và trồng cây xanh khu vực chuồng trại chăn nuôi, nhưng tại thời điểm kiểm tra, các công trình này mới đang được xây dựng. Đoàn kiểm tra đã yêu cầu Công ty khẩn trương xây dựng hệ thống xử lý chất thải nhằm đảm bảo xử lý chất thải đạt quy chuẩn cho phép trước khi thải vào môi trường.




Ngoài ra, Công ty phải tăng cường phun chế phẩm sinh học, trồng cây xanh khu vực chuồng trại và hệ thống xử lý nước thải để hạn chế mùi hôi phát sinh ảnh hưởng đến khu vực xung quanh. Đối với sự cố môi trường, Công ty phải chủ động phối hợp với địa phương và các hộ bị ảnh hưởng để có biện pháp khắc phục, thời gian trước ngày 30/10/2015. Đồng thời, khẩn trương khắc phục các tồn tại nêu trên, báo cáo kết quả trước 31/12/2015. Đoàn kiểm tra cũng đã tiến hành lấy mẫu nước tại hồ thủy lợi Hoàng Ân để phân tích, đánh giá vi phạm và áp dựng biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
[Read More...]


Những dòng sông nên thơ, bây giờ là thảm họa






Hà Nội cũng là thành phố được bao quanh bởi những dòng sông hiền hòa như sông Hồng, Tô Lịch, Kim Ngưu, sông Lừ, Nhuệ- Đáy….. Tuy nhiên đó chỉ là quá khứ của mấy chục năm về trước, giờ đây cảnh tượng ô nhiễm nặng nề trên những dòng sông vốn hiền hòa ấy lại là nỗi ám ảnh với những người dân thủ đô. Khi mà từng ngày từng giờ chúng đang dần biến thành những dòng sông có “Hương” thực sự theo đúng nghĩa đen.




Tiếc nuối những dòng sông xưa- nay




Sông Tô Lịch xưa vốn là một sông cổ của tứ giác nước Thăng Long, được coi là biên giới ngăn cách giữa thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận, hai bên bờ sông buôn bán tấp nập. Người dân từ khắp nơi có thể theo dòng sông Tô đưa hàng vào trong kinh thành. Từ lâu hai bờ sông Tô Lịch nổi tiếng vì bát ngát một màu xanh của các loại rau thơm, đặc biệt là rau húng Láng - loại rau đã đi vào ca dao như một thứ gia vị nổi tiếng không thể thiếu trong các bữa ăn gia đình người dân Hà thành. Người Hà Nội xưa vẫn thường ca ngợi sông Tô Lịch đẹp như một bức tranh thủy:




“Nước sông Tô vừa trong vừa mát

Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh

Dừng chèo muốn tỏ tâm tình

Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu”




Ngoài ra còn có Sông Nhuệ có vị trí địa lý vô cùng đặc biệt. Trước kia, nó là ranh giới tự nhiên giữa Thăng Long phía Đông và xứ Đoài mênh mông phía Tây. Sau năm 2008, sông Nhuệ nằm ở trung tâm Hà Nội, nhìn trên bản đồ, sông Nhuệ uốn lượn như một dải lụa mềm mại giữa lòng thành phố. Dòng sông Nhuệ mang biết bao giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, đi vào trong thi ca, trong bài hát “Người con gái Việt” của nhạc sĩ Lân Tuất: “Quê hương tôi bên dòng sông Nhuệ, bãi dâu mươn mướt xanh bờ. Quê hương tôi màu sen tấm áo vân hồng, hàng lúa chín thiết tha. Quê hương tôi 10 năm giặc chiếm đóng, còn đâu bóng người con gái đẹp giữa mùa xuân trẩy hội bên đình…”




Điều đáng buồn là tất cả những dòng sông ấy đã chỉ còn là “quá cảnh” khi trước đây dòng sông hiền hòa bao nhiêu, thì giờ lại đáng sợ bấy nhiêu.Ngày nay, người ta chỉ coi sông Tô Lịch như một cái “cống lộ thiên” của thủ đô. Người ta vẫn gọi nó theo một cái tên chơi chữ là sông “hương”- bởi quanh năm nó luôn bốc lên những mùi hôi thối. Nước sông đổ ra đen ngòm, rau muống tự nhiên sinh sôi tươi tốt, không một sinh vật sống dưới nước nào dám bơi lội trên dòng nước ấy. Người dân không “nỡ” ăn rau muống được thả trên sông vì sợ…ngộ độc.







Những đoạn sông may mắn rau muống vẫn còn mọc lên được, có những đoạn chỉ thấy đen kịt, đặc quánh giữa rác, bùn bẩn, ô nhiễm nghiêm trọng đến mức không loài thực vật nào có thể mọc lên nổi, mùi hôi thối bốc lên như một nỗi ám ảnh kinh hoàng của các hộ dân sinh sống dọc hai bên bờ. Phải "chống chọi" và làm quen với cảnh ô nhiễm của dòng sông là hoàn cảnh của những người dân sinh sống dọc hai bên bờ sông Tô Lịch, đoạn chảy qua hai quận Cầu Giấy và Thanh Xuân.




Mặc dù đã qua nhiều lần cải tạo và không ít giải pháp khắc phục nhưng hiện dòng sông này vẫn ô nhiễm nặng nề: nước sông càng lúc càng cạn, màu nước càng ngày càng đen và bốc mùi hôi thối nặng. Thậm chí dòng sông hiện nay trông chẳng khác nào một hồ chứa nước thải mà chẳng còn loài sinh vật nào có thể sống được. Qua tìm hiểu, mỗi ngày có tới gần 250.000 m3 nước thải xả thẳng xuống dòng sông mà không hề qua xử lý.




Hay sông Nhuệ- Đáy xưa vốn trong xanh là thế nay cũng đã bị biến đổi hoàn toàn. Với chiều dài gần 20 km chảy qua địa bàn thủ đô (điểm đầu ở Q.Bắc Từ Liêm, điểm cuối tại H.Phú Xuyên), nhiều khúc của sông Nhuệ nước đen kịt, đặc quánh, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc và gần như không còn xuất hiện sự sống dưới lòng sông. Theo các hộ dân sinh sống dọc hai bên bờ, thực trạng ô nhiễm trên sông diễn ra đã lâu và ngày một tăng theo sự xuất hiện của hàng loạt những khu đô thị, khu chung cư.




Ông Nguyễn Hữu Nghĩa (54 tuổi, ngụ ở làng đào Ngọc Trục thuộc P.Đại Mỗ, Q.Nam Từ Liêm) cho hay: “Chỉ khoảng hơn chục năm trước, người dân chúng tôi vẫn thả lưới, đánh dậm... để kiếm con tôm, con cá. Không những thế, nước sông Nhuệ còn được các hộ làm nông dùng để cấy hái, trồng cây cảnh, sản xuất hoa màu. Nhưng những năm gần đây, nước sông ngày càng ô nhiễm. Không những tôm cá không sống nổi, mà người lội sông còn bị mẩn ngứa, mắc đủ thứ bệnh ngoài da”.




Người dân sống ở gần sông Nhuệ cho biết, sông bị ô nhiễm nặng đã gây ảnh hưởng tới mạch nước nước ngầm. Hàng loạt giếng nước của các hộ dân sinh sống dọc con sông dần bị chuyển sang màu đục nhờ nhờ, nổi váng và có mùi hôi, tanh. Nhiều đoàn kiểm tra vệ sinh môi trường H.Thanh Oai về lấy mẫu nước giếng đi xét nghiệm, và kết quả cho thấy nước giếng ở Cự Khê bị nhiễm asen ở mức độ cao vượt ngưỡng cho phép.




Đó là không chỉ là số phận riêng của hai dòng sông Tô Lịch và Nhuệ Đáy mà còn là số phận chung của rất nhiều các con sông khác hiện nay trong nội đô. Tại các sông thoát nước chính khác của Hà Nội như sông Lừ, sông Sét và sông Kim Ngưu... tình trạng ô nhiễm cũng đang ở mức báo động đỏ. Ở nhiều đoạn, lòng sông chẳng khác cái ao tù, nước đen đặc, nổi váng, bốc mùi xú uế nặng, ruồi nhặng bu kín.




Rất nhiều hộ dân sống dọc con sông Lừ (Đoạn từ phường Nam Đồng tới phường Phương Liệt, Đống Đa, Hà Nội) luôn than phiền về việc dòng sông bốc mùi hôi thối, ngột ngạt đặc biệt là vào những ngày hè oi bức.




Cần nhìn lại những gì con người đã làm




Nguyên nhân khiến nhưng dòng sông vốn hiền hào ấy lại trở thành những con quái vật bốc mùi và tiềm ẩn nhiều nguy cơ bệnh tật có lẽ đáng trách nhất phải nói đến sự vô tâm, vô ý thức và tàn phá nặng nề của con người.




Có lẽ, cũng khó mà “sống” được khi mỗi ngày, những con sông này đang phải hứng chịu một cách quá tải hàng nghìn mét khối nước thải chưa qua xử lý từ hệ thống thoát nước chung của thành phố, bao gồm nước sinh hoạt, nước thải công nghiệp và thậm chí là nước thải bệnh viện... Chỉ riêng hệ thống sông Nhuệ - Đáy, theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), có đến 700 nguồn nước thải đổ vào với khối lượng 80.000m3 mỗi ngày.




Dòng chảy bị tắc nghẽn, do quy hoach xây dựng lấn chiếm dòng chảy, rác thải sinh hoạt bị vứt bừa bãi tràn lan xuống lòng sông. Dòng chảy không được khơi thông dẫn đến nhiều đoạn và trở thành môi trường lưu giữ những chất độc hại gây ra biến đổi môi trường nước sông và các kênh mương, làm suy giảm chất lượng nguồn nước.




Mặc dù nhà nước đã có nhiều phương án, chính sách để cải tạo, nạo vét khơi thông dòng chảy, triển khai nhiều hệ thống thu gom nước thải và đầu tư xây dựng thêm các nhà máy xử lý nước thải quy mô lớn như Nhà máy xử lý nước thải Bảy Mẫu có công suất 13.300 m3/ngày/đêm, Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá với công suất 270.000 m3/ngày/đêm, Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô có công suất 84.000 m3/ngày/đêm... Ngoài ra còn triển khai thực hiện dự án bổ cập nước sông Hồng cho sông Tô Lịch, Kim Ngưu.... Tuy nhiên, tiến độ thi công của những kế hoặc đó vẫn còn quá chậm so với tốc độ tàn phá của con người, tốc độ chết của những dòng sông.




Thực trạng ô nhiễm tại những con sông nội đô đã lên đến mức báo động, nó không chỉ ảnh hưởng tới cảnh quan môi trường mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống an sinh, xã hội của người dân.Tất cả những điều trên khiến chúng ta cần nghiêm túc nhìn lại và suy ngẫm, trăn trở nhiều hơn.
[Read More...]


Indonesia và công tác chống mù khô



Trong nhiều tuần qua, từ tháng 9 đến bây giờ các quốc gia Đông Nam Á vẫn còn chịu ảnh hưởng từ khói bụi do cháy rừng ở Indonesia. Và mới đây, tổng thống Indonesia đã đề nghị 4 nước, trong đó có Nga và Nhật giúp khống chế đám cháy này.

Đường phố Indonesia chìm trong khói bụi

Tổng thống Indonesia Joko Widodo: "Chúng tôi đã đề nghị giúp đỡ và đã nhận được sự giúp đỡ từ Singapore", và ông cũng ngỏ ý muốn nhờ Nga, Malaysia và Nhật giúp. Bởi vì đám cháy này là đám cháy trên đất than bùn khác với những đám cháy bình thường. Do vậy, việc đốt rừng là để khai thác đất trồng cọ dầu và các đồn điền phục vụ ngành công nghiệp gỗ, giấy bột nhưng dù đã đốt được cây cỏ, lửa vẫn cứ âm ỉ trong những mỏ than bùn ngầm dưới đất chưa thể dập tắt hẳn.
Tổng thống cũng nói rõ: "Thứ chúng tôi đang cần là các máy bay có thể mang được từ 12 - 15 tấn nước, không phải loại chỉ chở được hai - ba tấn như chúng tôi đang có". Ông còn cho biết Indonesia cần ít nhất ba máy bay của Singapore và Nga.

Khói bụi làm giảm tầm nhìn của xe cộ lưu thông trên tuyến đường nối giữa Malaysia và Singapore

Khói mù khô đã lan ra nhiều nơi trong khu vực Indonesia, singapore, Malaysia, Thái Lan... làm gián đoạn nhiều hoạt động, các chuyến bay và trường học phải đóng cửa vì ô nhiễm bầu không khí. Tại Việt Nam, Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ cũng xác định hiện tượng này diễn ra ở thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Nam Bộ.

Người ra đường phải đeo khẩu trang bởi khói bụi ô nhiễm

Indonesia tuyên bố sẽ hành động để ngăn chặn việc đốt rừng nhưng hết lần này tới lần khác cháy rừng vẫn cứ tái diễn. Đặc biệt trong năm nay, hiện tượng El Nino khiến cho khô hạn bất thường nên tình trạng ô nhiễm ngày càng tệ hại thêm.
Tuần trước, cơ quan quản lý thiên tai quốc gia Indonesia cho biết họ hy vọng khoảng đầu tháng 11, khi gió mùa đông bắc bắt đầu thổi, mưa sẽ đổ xuống, giúp dập tắt cơn lửa.


[Read More...]


Khắc phục ô nhiễm ở nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2



Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận cùng lãnh đạo các sở ngành đến làm việc với các đơn vị đang thi công dự án Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân vào ngày 8-10 qua.

Công trình đầu tiên được đưa vào sử dụng ở Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân là nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Đầu năm nay, 2 tổ máy đã phát điện, hòa vào lưới quốc gia, đáp ứng nhu cầu cấp điện cho miền Nam trong mùa khô.



Nhưng trong quá trình vận hành, nhà máy đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc trong nhân dân, mà đỉnh điểm là trong các ngày 13, 14 và 15/4. Qua cam kết chính quyền và người dân địa phương, đến nay Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đã khắc phục sai sót.

Giám đốc Công ty nhiệt điện Vĩnh Tân 2, ông Đinh Văn Thành chia sẻ: “Hiện nay, khu vực bãi xỉ chúng tôi đã tập trung, vận chuyển xỉ ra và lu lèn, che phủ bạt, tưới nước, đậy lại đầy đủ, tưới ẩm, kiểm soát hằng ngày. Đến thời điểm hiện giờ thì không còn tình trạng bay bụi nữa.”

Báo cáo với Lãnh đạo tỉnh Bình Thuận, nhà thầu Doosan (Hàn Quốc) thi công Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 cho biết: Đơn vị đã thực hiện hơn 32% khối lượng công trình. Phần san lấp mặt bằng và xây dựng kiến trúc đã cơ bản, hiện đơn vị tiếp tục lắp đặt các thiết bị cơ khí như: lò hơi, nhà turbine, đường ống nước tuần hoàn… Nhà thầu đã thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường, được lãnh đạo tỉnh Bình Thuận đánh giá cao.

Riêng dự án Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 hiện có 256 lao động Trung Quốc và 458 lao động Việt Nam cùng làm việc. Sau 4 tháng thi công, với sự nỗ lực của chủ đầu tư và nhà thầu, đến nay công trình sắp hoàn thành phần đế móng của tổ máy số 1, tổ máy số 2, đế móng lò hơi và ống khói.

Ông Phan Ngọc Cẩm Thành, Phó Tổng giám đốc Công ty nhiệt điện Vĩnh Tân 1 cho biết: “Tiến độ dự án luôn được giám sát chặt chẽ và phải đảm bảo sáu không. Đó là: không xảy ra tai nạn chết người, tai nạn có người bị thương nặng, không để xảy ra những tai nạn liên quan đến thiết bị cháy nổ, sự cố liên quan đến an toàn lao động, vệ sinh môi trường...”

Ngoài ra, ông Lê Tiến Phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đến thăm và kiểm tra công trường dự án Cảng tổng hợp Vĩnh Tân. Khối lượng công trình hiện đã đạt trên 30%. Dự kiến, đến quý I năm 2017 cảng tổng hợp Vĩnh Tân sẽ hoàn tất. Dự án này được đánh giá là có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh Bình Thuận và các tỉnh lân cận như: Ninh Thuận và Lâm Đồng.

Qua nắm tình hình, lãnh đạo tỉnh Bình Thuận đã chỉ đạo Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Bộ đội Biên phòng tỉnh cùng hỗ trợ các các đơn vị đang hoạt động tại Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân đảm bảo tình hình an ninh trật tự trong khu vực, không để điểm nóng, phức tạp xảy ra.

Tỉnh Bình Thuận cũng sẽ tạo điều kiện tối đa để các dự án sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước.
[Read More...]


800.000 tấn chất thải nguy hại phát sinh mỗi năm ở Việt Nam



Lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc ước khoảng 800 ngàn tấn/năm là thông tin theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố.

Con số này được thống kê dựa trên số lượng chất thải nguy hại tối đa dự kiến phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và không bao gồm chất thải nguy hại phát sinh từ các hộ gia đình.​



Tại Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tại Hà Nội, ông Nguyễn Văn Lâm, Trưởng khoa Địa chất, Trường Đại học Mỏ-Địa chất, cho biết, hiện nay, đa phần các nguồn thải có phát sinh lượng chất thải nguy hại lớn hàng năm đều đã được thu gom và đưa đến các cơ sở đã được cấp phép để xử lý.

Năm 2014, chất thải rắn sinh hoạt trên toàn quốc  khoảng 23 triệu tấn, tương đương với 63.000 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày. Riêng tại thành phố Hà Nội, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lên tới 6.420 tấn/ngày ​và Thành phố Hồ Chí Minh là 6.739 tấn/ngày.

Tính đến tháng 6/2015, trên toàn quốc đã có 83 doanh nghiệp với 56 đại lý thu gom rác có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép và khoảng 130 đơn vị do các địa phương cấp phép hoạt động. Trong đó, riêng công suất xử lý chất thải nguy hại được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép là khoảng 1.300 nghìn tấn/năm.

Ông Lâm cho biết thêm, hiện nay, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60%. Riêng tỷ lệ thu gom chất ​thải rắn sinh hoạt tại các khu vực nông thôn vẫn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-50%.

Theo ông Lâm, hiện nay vẫn còn hiện tượng các chất thải không có giá trị kinh tế được thu gom và đổ lẫn với chất thải sinh hoạt, thậm chí còn lẫn với chất thải nguy hại, gây khó khăn cho quá trình thu gom, xử lý. Tại nhiều cơ sở sản xuất, hệ thống kho chứa chất thải rắn công nghiệp cũng chưa đạt yêu cầu, không có mái che, khi nước mưa xuống, gây ảnh hưởng đến môi trường.

Trong khi đó, “việc quản lý chất thải rắn chưa phù hợp với xu thế tái sử dụng; hều hết công nghệ xử lý chất thải rắn nhập khẩu không phù hợp với thực tế chất thải rắn Việt Nam cũng chưa được phân loại tại nguồn…,” ông Lâm nói.

Trước thực tế nêu trên, ông Lâm kiến nghị các đơn vị quản lý nhà nước về môi trường cần rà soát, quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh tới cấp huyện, xã; nghiên cứu xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích thu gom, vận chuyển và đầu tư cơ sở xử lý chất thải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

Mặt khác, “​cơ đơn vị quản lý nhà nước về môi trường cũng cần khuyến khích các cơ sở không có giấy phép và cơ sở hoạt động trong các làng nghề chuyển đổi sang mô hình sản xuất công nghệ sạch, thân thiện với môi trường; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của các địa phương trong việc kiểm soát chặt chẽ các khu xử lý chất thải, bãi thải nguy hại tại các vùng..”, ông Lâm nhấn mạnh.
[Read More...]


Thiếu nước giữa mùa mưa



Hiện nay tại các tỉnh Tây Nguyên đang là mùa mưa nhưng các hồ, đập vẫn chưa đủ lượng nước cần thiết để phục vị mùa khô năm 2015 - 2016. Hàng ngàn công trình hồ, đập mới chỉ tích đủ 30% giảm gấp nhiều lần so với năm 2014 nên sẽ thiếu nước nghiêm trọng phục vụ sinh hoạt và sản xuất trong mùa khô tới là thông tin được Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho biết.

Theo dự báo của các đơn vị chức năng, mùa mưa năm nay đến muộn và kết thúc sớm, nhất là khu vực Tây Nguyên nên lượng mưa có thể thiếu hụt từ 30-60% ngay trong những tháng mùa mưa và hạn hán nghiêm trọng diễn ra trên diện rộng trong mùa khô kế tiếp. Theo đó, lượng mưa ở khu vực Tây Nguyên từ tháng 9/2015 đến tháng 2/2016 có khả năng thấp hơn so trung bình nhiều năm khoảng 20 đến 50%.



Lượng mưa có thể thiếu hụt từ 30-60% ngay trong những tháng mùa mưa và hạn hán nghiêm trọng diễn ra trên diện rộng trong mùa khô kế tiếp vì mùa mưa năm nay đến muộn và kết thúc sớm, nhất là khu vực Tây Nguyên. Lượng mưa ở khu vực Tây Nguyên từ tháng 9/2015 đến tháng 2/2016 có khả năng thấp hơn so trung bình nhiều năm khoảng 20 đến 50% là dự báo của các đơn vị chức năng.


Phó Giám đốc Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk, ông Bùi Văn Sứng cho biết, từ đầu năm đến nay, lượng mưa trong toàn tỉnh giảm hơn so trung bình nhiều năm từ 60-98%. Tại Đắk Lắk, mặc dù đang là mùa mưa, nhưng mấy tháng nay mưa cũng rải rác, không tập trung, lượng nước các sông, suối thấp hơn gấp nhiều lần so với các năm trước.

Vì vậy trong thời điểm hiện tại, phần lớn các hồ, đập lớn của tỉnh như Krông Búk hạ, Vụ Bổn (Krông Pắk), hồ Buôn Triết (huyện Lắk), hồ Ea Kao (thành phố Buôn Ma Thuột)… dung tích nước chỉ mới đạt 27,8% đến trên 30%, thấp gần 3m so cùng kỳ năm 2014. Thậm chí, tỉnh Đắk Lắk vẫn còn trên 40 công trình hồ, đập đang ở mực nước chết.
Vẫn còn hàng trăm công trình hồ, đập đang ở mực nước chết hoặc mới tích nước được dưới 30% tại các tỉnh Kon Tum, Gia Lai. Trong mùa khô vừa qua, các tỉnh Tây Nguyên đã có hàng trăm công trình thủy lợi cạn khô đáy, không còn khả năng hoạt động làm hàng chục ngàn hécta cây trồng bị khô cháy mất trắng. Ngay tại tỉnh Đắk Lắk đã có 200 trình trình thủy lợi không còn khả năng hoạt động; trong đó có 176 công trình hồ chứa, 21 đập dâng cạn khô đáy, không còn dòng chảy và 3 trạm bơm không còn nguồn nước hoạt động. Lượng nước tại các hồ chứa lớn chỉ còn 10 đến 20% dung tích nên tỉnh Đắk Lắk có 61.446 ha cây trồng bị khô hạn; trong đó diện tích mất trắng trên 4.364 ha, thiệt hại trên 2.009 tỷ đồng.

Hiện nay, toàn vùng Tây Nguyên đã xây dựng được trên 2.261 công trình thủy lợi; trong đó, có 1.150 hồ chứa, 942 đập dâng, 114 trạm bơm, 55 công trình khác, với diện tích tưới thiết kế 268.987 ha, nhưng thực tế chỉ mới tưới cho 202.166 ha. Trong đó, các công trình thủy lợi ở Tây Nguyên tưới cho gần 73.000 ha lúa, trên 112.627 ha cây công nghiệp dài ngày, chủ yếu là cây cà phê và gần gần 17.000 ha cây màu, rau các loại, mới đạt 17,6% so với diện tích các loại cây có nhu cầu cần tưới ở địa bàn Tây Nguyên.
[Read More...]


Doanh nghiệp tư nhân Trần Phúc có nguy cơ bị tịch thu giấy phép khai thác đá





Trưởng Phòng Khoáng sản - Tài nguyên nước, Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Đắk Nông,  ông Nguyễn Hữu Trung cho biết: Đoàn kiểm tra của Sở đã phối hợp với các đơn vị liên quan và chính quyền địa phương tiến hành khảo sát thực địa mỏ đá bazan tại thôn Tân An, xã Đắk R'Moan, thị xã Gia Nghĩa.




Sau khi nhận được đơn khiếu nại của người dân về việc khai thác đá gây huy hiểm cho người dân khu vực xung quanh Sở đã khảo sát kiểm tra.



Một số vết nứt, vỡ trên tường nhà người dân ở khu vực tiếp giáp với mỏ đá (trong phạm vi bán kính 200 mét) được đoàn kiểm tra ghi nhận lại và yêu cầu chủ doanh nghiệp tuân thủ nghiêm quy định về bán kính tối thiểu để đảm bảo an toàn tính mạng cho dân, tiến hành việc đền bù những thiệt hại về nhà cửa, vật dụng, hoa màu... cho những hộ bị thiệt hại, tiến hành các biện pháp giảm thiểu các tác động từ hoạt động khai thác đá đến môi trường như bụi, chấn động, sóng không khí, đá văng...


Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đắk R'Moa, ông Lê Đình Thắng cho biết,  xã sẽ kiến nghị ngành chức năng xem xét rút giấy phép của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp tiếp tục gây ảnh hưởng đến người dân.



Doanh nghiệp tư nhân Trần Phúc được Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông cấp giấy phép khai thác mỏ đá Tân An  vào tháng 8/2014 với thời gian 15 năm. Việc khai thác đá tại đây được tiến hành bằng phương pháp lộ thiên, trữ lượng được phép khai thác gần 1,2 triệu tấn. Doanh nghiệp Trần Phúc cũng được Sở Công thương tỉnh cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp vào tháng 8/2014 với lượng thuốc nổ sử dụng lớn nhất là 1.256 kg.




Nhiều hộ dân sống xung quanh khu vực mỏ đá phản ánh hoạt động khai thác tại đây gây ô nhiễm và nguy hiểm đến tính mạng người dân, do doanh nghiệp khai thác đã nổ mìn phá đá vượt ra ngoài phạm vi an toàn tối thiểu. Theo quy định, bán kính an toàn tối thiểu khi nổ mìn là 200 mét; trước khi nổ mìn phải di dời người dân trong bán kính này ra khỏi khu vực nguy hiểm; đơn vị khai thác có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên quan lập biên bản nghiệm thu mức độ ảnh hưởng đến hoa màu, nhà cửa của các hộ dân xung quanh để làm căn cứ bồi thường thiệt hại, dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên.




Vào trưa 31/7, trước khi nổ mìn, nhân viên của doanh nghiệp Trần Phúc chỉ phát loa thông báo cho người dân về việc nổ mìn chứ không có biện pháp di dời dân ra khỏi khu vực nguy hiểm như quy định. Đồng thời, nhà cửa, vật dụng của người dân bị thiệt hại do nổ mìn cũng không được đền bù thỏa đáng, hoặc bị kéo dài thời gian đền bù; một số nhà dân vẫn nằm trong khu vực nguy hiểm.
[Read More...]


Cây dừa được đề xuất trồng trên các tuyến đường TP.HCM





Mô hình trồng dừa trên các tuyến đường mới và ven kênh rạch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vừa được hiệp hội dừa Việt Nam vừa có đề xuất với lãnh đạo Ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.



Hệ thống sông ngòi chằng chịt, Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống sông ngòi chằng chịt, hơn 500km đường ven kênh, nếu mật độ trồng 5m/1 cây thì hai bên bờ kênh có thể trồng được khoảng 100.000 cây dừa.

Ngoài ra hiệp hội còn cho biết thêm, dừa có khả năng chống chọi mưa bão cao và phù hợp với hầu hết các loại đất, do vậy trồng dừa làm cây xanh cho đô thị sẽ rất hiệu quả kinh tế do ít tốn công chăm sóc.

Không những tạo được cảnh quan đẹp, trữ tình mang nét đặc trưng của vùng đất phương Nam cây dừa còn thân thiện với môi trường. Với dạng lá thùy lông chim, lá dừa còn có tác dụng làm giảm được tiếng ồn, lọc không khí và giảm nộ cuồng trong mùa giông bão.

Việc quản lý bảo dưỡng cây xanh tại thành phố Hồ Chí Minh có thể xã hội hóa và tiết kiệm một phần ngân sách không nhỏ nếu chọn dừa là cây xanh chủ lực. Đơn vị bảo dưỡng chăm sóc sẽ có được nguồn thu hằng tháng từ dừa cho công tác duy tu chăm sóc từ việc thu hoạch trái và lá dừa. Nếu không muốn để dừa ra trái, có thể chiết xuất mật hoa dừa

Trước mắt hiệp hội dừa Việt Nam đề xuất tổ chức khảo sát thực tế hàng dừa dọc kênh Tàu Hũ (Q. 8, thành phố Hồ Chí Minh) để hiểu thêm về lai lịch và tác dụng của hàng dừa đó đối với môi trường sống của cư dân địa phương.

Sau đó, tổ chức hội thảo về giá trị của cây dừa trong điều kiện biến đổi khí hậu, hiệu quả kinh tế và du lịch nội đô thành phố Hồ Chí Minh và những ý kiến phản biện để có cơ sở khắc phục.

Nhận được đề xuất trên, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã giao Sở Giao thông vận tải phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công viên cây xanh thành phố và các nhà khoa học chuyên ngành nghiên cứu đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố.
[Read More...]


 

Recent Comments

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2010 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Thanh Tu