Thủ đô Hà Nội bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều bất cập



Mặc dù đã quyết tâm trong công tác bảo vệ môi trường trên địa bản thủ đô Hà Nội tuy nhiên do khối lượng công việc phải làm cực kỳ lớn, lực lượng và năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý tại nhiều đơn vị  còn chưa đủ trình độ, ý thức hạn chế của các cấp chính quyền, đặc biệt ý thức chấp hành nghiêm chỉnh luật bảo vệ môi trường của doanh nghiệp và người dân chưa thỏa đáng nên chương trình đề ra vẫn chưa hoàn thành bao nhiêu mặc dù đã có sự chỉ đạo quyết liệt.

Những bãi rác thải trong khu dân cư thị xã Sơn Tây. 

Từ thực tế quản lý, triển khai thực hiện cho thấy Hà Nội vẫn tồn tại nhiều bất cập trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó đáng chú ý là thiếu tư duy quy hoạch môi trường, quản lý môi trường đô thị còn chưa đồng bộ, ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng chưa cao, tình trạng ô nhiễm môi trường có xu hướng gia tăng.

Thiếu tư duy quy hoạch môi trường

Việc bảo vệ môi trường đã trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng và người dân Hà Nội. Chính quyền thành phố đã đầu tư lớn cho công tác này.

Các khu công nghiệp, bệnh viện, hầu hết các khu đô thị và khách sạn lớn đã đầu tư xây dựng các trạm xử lý môi trường. Hai trạm xử lý nước thải đô thị đầu tiên của thành phố đã được xây dựng ở khu Kim Liên, hồ Trúc Bạch và nhiều dự án xử lý nước thải đô thị chung đã đưa vào kế hoạch xây dựng.

Song, đề cập đến những vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường Hà Nội hiện nay, phó giáo sư-tiến sỹ Lưu Đức Hải, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng Hà Nội vẫn thiếu tư duy quy hoạch môi trường.

Cụ thể, Hà Nội chưa có tư duy đầy đủ về quy hoạch môi trường trong các dự án phát triển; chỉ tiêu môi trường và hạ tầng môi trường thấp, nhất là diện tích cây xanh, đất dành cho giao thông, đất không gian trống; chưa có giải pháp phòng ngừa tai biến thiên nhiên như động đất, lún đất. Trong khi đó, quy hoạch phát triển đô thị chưa đồng bộ, mật độ xây dựng quá cao.

Ông Hải dẫn chứng thành phố Hà Nội đã xây dựng các quy hoạch môi trường chuyên ngành như cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, thu gom rác thải, các bãi chôn lấp rác. Tuy nhiên phần lớn các quy hoạch trên được xây dựng khi chưa có quy hoạch chức năng môi trường, có thể dẫn đến hiệu quả kém, thậm chí xung đột với nhau.

Việc không tách biệt hệ thống thoát nước thải khỏi hệ thống thoát nước mưa của thành phố đang làm cho các dự án xử lý nước thải đô thị kém khả thi, vì đáng lý ra chỉ phải xử lý một lượng nhỏ nước thải thì cần phải xử lý toàn bộ nước thải và nước mưa của các sông và kênh thoát nước. Hay như việc thiếu nghiên cứu về trục thoát nước chính cho Hà Nội, ví dụ trục thoát nước sông Đáy thay cho sông Nhuệ hiện nay đang làm cho việc cải tạo hệ thống thoát nước Hà Nội vào mùa mưa không phát huy tối đa hiệu quả…

Theo nhiều chuyên gia môi trường, một trong những bất cập nữa tồn tại nhiều năm qua tại Hà Nội đó là ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng chưa cao, trong khi lực lượng cán bộ khoa học môi trường lớn của các trường đại học và viện nghiên cứu chưa được khuyến khích tốt để tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Thủ đô.

Gia tăng ô nhiễm

Cũng từ thực tế triển khai công tác bảo vệ môi trường tại Hà Nội cho thấy mặc dù là đô thị điển hình cho cả nước, có Luật Thủ đô riêng nhưng do chưa có các quy định riêng về công cụ và chế tài xử lý các vi phạm môi trường đầy đủ nên tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Đáng báo động là vấn đề ô nhiễm không khí (bụi và khí độc khu vực nội thành, các công trường xây dựng, các khu vực làng nghề và khu công nghiệp, đốt rơm sau thu hoạch); ô nhiễm nước mặt trong các hồ đô thị, các sông và kênh thoát nước, ô nhiễm nước ngầm; ô nhiễm chất thải rắn, rác thải sinh hoạt không phân loại tại các đô thị; ô nhiễm môi trường tại các bãi rác; ô nhiễm rác thải sinh hoạt tại các khu vực dân cư nông thôn.

Qua nghiên cứu của các đơn vị chức năng, các lưu vực nước mặt của Hà Nội đang trong tình trạng ô nhiễm nặng nề. Các sông thoát nước chính trong nội thành (sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu), các kênh thoát nước nội đô và một số hồ đô thị (hồ Ba Mẫu, hồ Giảng Võ, hồ Yên Sở) có mức độ ô nhiễm hợp chất N, P và chất hữu cơ cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.

Các lưu vực nước mặt khác như sông Nhuệ, sông Đáy và các hồ đô thị cũng đang trong tình trạng ô nhiễm vào mùa khô cạn. Tương tự, nước ngầm ở nhiều khu vực nội đô và ngoại thành Hà Nội cũng bị ô nhiễm bởi các thành phần NO3, PO4-3, các kim loại nặng As, Fe và đang có xu hướng gia tăng do sự lan truyền các chất ô nhiễm tự nhiên từ nguồn nước mặt ô nhiễm và việc quản lý khai thác nước ngầm còn bất cập.

Đáng chú ý, tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của nhân dân và sự phát triển bền vững của các làng nghề. Với 1.350 làng nghề và làng có nghề trên địa bàn thành phố thì nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường là do ý thức người dân. Trong khi đó, các cơ quan quản lý Nhà nước chưa chú trọng việc kiểm tra, xử lý, có lúc, có nơi còn thiếu trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, nguồn kinh phí đầu tư cho việc khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề còn hạn chế, đa phần cơ sở sản xuất, hộ gia đình không có kinh phí đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải, khí thải, thu gom phân loại chất thải rắn; thiết bị, công nghệ sản xuất vẫn lạc hậu, mặt bằng chật hẹp…

Cần những giải pháp khắc phục đồng bộ, hiệu quả

Để khắc phục những tồn tại, bất cập trên nhằm thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Hồng Khanh yêu cầu các cấp, các ngành tiếp tục kiện toàn bộ máy, nâng cao hiệu lực quản lý phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững. Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, chấp hành pháp luật về môi trường cho các tổ chức và công dân; tập trung rà soát, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án môi trường, nhất là các dự án xử lý rác thải, nước thải, khí bụi; phối hợp với các nhà đầu tư giải quyết vướng mắc trong quá trình xây dựng công trình và vận hành, khai thác.

Thành phố Hà Nội cũng tập trung thực hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục và cải thiện ô nhiễm môi trường; Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy đến năm 2020.

Lãnh đạo thành phố chỉ đạo các lực lượng chức năng đẩy mạnh hơn nữa nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm và xử lý nghiêm các cơ sởt gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.

Theo kế hoạch xử lý ô nhiễm môi trường các làng nghề trên địa bàn, từ nay đến năm 2030, thành phố cần 1.350 tỷ đồng triển khai xây dựng hệ thống xử lý môi trường tại 80 làng nghề trọng điểm.

Bên cạnh việc đầu tư bằng kinh phí Nhà nước, thành phố rất khuyến khích xã hội hóa bảo vệ môi trường, phấn đấu tăng tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt trong ngày tại các huyện đạt trên 95%…

Tuy đã có những lộ trình cụ thể để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường Thủ đô nhưng quan trọng nhất vẫn là các tổ chức cũng như người dân phải tự ý thức và có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ môi trường. Bởi chính cộng đồng là những người trực tiếp tham gia sản xuất, cũng là tác nhân gây ô nhiễm môi trường, đồng thời lại là những người phải gánh chịu trực tiếp hậu quả của việc ô nhiễm.
[Read More...]


Nuôi tôm trong nhà kính





Tại tỉnh Bình Định công ty cổ phần Thủy sản Việt - Úc sẽ phát triển dự án nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh tôm thương phẩm siêu thâm canh công nghệ cao trong nhà kính.

Chính quyền tỉnh vừa chấp thuận chủ trương cho doanh nghiệp này đầu tư dự án trên khu đất 300 héc ta tại xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ  là thông tin từ Trung tâm xúc tiến Đầu tư tỉnh Bình Định cung cấp.

Dự án nhằm sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo các tiêu chuẩn để xuất khẩu trực tiếp ra các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản với vốn đầu tư dự kiến là 800 tỉ đồng.

Ngoài ra, dự án sẽ tạo ra sản phẩm cung cấp trực tiếp cho các công ty, nhà máy chế biến trong tỉnh cũng như toàn quốc.

Trước mắt tỉnh Bình Định sẽ giao cho nhà đầu tư 100 héc ta để xây dựng khu nuôi tôm công nghệ cao và sẽ giao tiếp 200 héc ta còn lại sau khi nhà đầu tư mở rộng quy mô sản xuất và xây dựng nhà máy chế biến.

Theo hồ sơ dự án đầu tư, nhiều công nghệ cao được áp dụng cho dự án tại đây như công nghệ nhà màng Israel; công nghệ lọc nước tuần hoàn của Mỹ và Hà Lan; sử dụng chế phẩm sinh học; ao nuôi có mái che phủ.

Theo chủ đầu tư, đây là những công nghệ có tính thực tiễn cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở Việt Nam, hạn chế rủi ro, tăng mùa vụ và giảm chi phí giá thành sản xuất. Trong đó, hệ thống xử lý nước tuần hoàn của Mỹ và Hà Lan được đầu tư để đảm bảo mô hình nuôi có chất lượng nước ổn định và không gây ô nhiễm môi trường.

Huyện Phù Mỹ của tỉnh Bình Định là một trong những vùng có lợi thế cho việc phát triển vùng nuôi tôm xuất khẩu của tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều vấn đề bất cập xảy ra tại đây như hệ thống ao xử lý quá tải; nhiều ao nuôi thải nước thải trực tiếp ra cồn cát; nuôi tôm sử dụng nhiều nước ngọt; chưa được đầu tư hệ thống ao chứa và xử lý chất thải rắn; một số diện tích phát triển tự phát không có đầu tư hệ thống xử lý nước thải, chất thải.

Vì vậy theo cơ quan này, sự hình thành và phát triển các mô hình dự án nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh tôm thương phẩm siêu thâm canh công nghệ cao trong nhà kính là một hướng đi tốt và bền vững hơn. Bởi lẽ, đây sẽ là giải pháp hữu hiệu để giải quyết các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đang đặt ra, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững đối với lĩnh vực nuôi tôm, mang lại hiệu quả kinh tế cho vùng cát ven biển, góp phần chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và giảm áp lực khai thác ven bờ, tạo ra môi trường sinh thái mới cho ven biển.

Cũng theo Trung tâm xúc tiến Đầu tư tỉnh Bình Định, dự án nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh tôm thương phẩm siêu thâm canh công nghệ cao trong nhà kính là dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư theo Nghị định 210 của Chính phủ và nằm trong danh mục dự án kêu gọi đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2014 - 2020 của ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 3480/QĐ-UBND. Đồng thời, dự án cũng nằm trong quy hoạch khu nuôi tôm thủy sản ứng dụng công nghệ cao thuộc quy hoạch tổng thể ngành thủy sản của tỉnh đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
[Read More...]


Cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết ô nhiễm từ các làng nghề




Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cùng lãnh đạo Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế đã trực tiếp đi thị sát tình trạng ô nhiễm tại làng nghề tái chế chì Đông Mai (xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) vào cuối tháng 5 vừa qua.


Ảnh minh họa

Thực tế cho thấy mức độ ô nhiễm môi trường từ các làng nghề đang ngày càng đáng báo động, ảnh hưởng tới sức khỏe con người, nhưng hiện các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương vẫn chưa tìm ra giải pháp hữu hiệu.

Mỗi làng nghề một bệnh đặc trưng

Thông tin mới đây cho biết, kết quả xét nghiệm mức độ nhiễm độc chì của người dân làng nghề Đông Mai mới đây cho thấy, trong số 317 trẻ được xét nghiệm có 207 trẻ (chiếm 65,3%) bị nhiễm độc chì trong máu ở mức 10-44,9mcg/dl. Còn tại kết quả giám sát môi trường thôn Đông Mai, nguồn nước kênh rạch có hàm lượng chì cao hơn giới hạn cho phép 1.000 lần. Không khí tại cộng đồng và nơi sản xuất tái chế chì đều có hàm lượng chì cao hơn tiêu chuẩn, trong đó 3/5 mẫu không đạt tiêu chuẩn. Mặt khác, các mẫu đất lấy tại vườn các hộ gia đình trong thôn cũng có hàm lượng chì cao hơn giới hạn cho phép 10-16 lần. Kéo theo đó là rau, củ, quả trồng trên nền đất nhiễm chì cũng vượt giới hạn cho phép 1,3 lần.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long cho biết, theo báo cáo năm 2014 của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, hiện cả nước có 5.407 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 1.578 làng nghề được công nhận. 3 tỉnh có làng nghề được công nhận nhiều nhất là Hà Nội, Thái Bình và Nghệ An. Làng nghề được chia thành 6 nhóm ngành chính. Tùy theo yếu tố nguy cơ ở từng nhóm ngành, người dân ở các làng nghề có vấn đề sức khỏe khác nhau. Cụ thể, với làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ (chiếm 20%), các bệnh phổ biến thường gặp là bệnh ngoài da, viêm niêm mạc như nấm kẽ, nấm móng, dày sừng gan bàn chân, bàn tay, bệnh đường tiêu hóa. Tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ (chiếm 40%), người dân dễ mắc bệnh về đường hô hấp, ngoài da. Làng nghề tái chế phế liệu (gồm giấy; kim loại đồng, chì, sắt, kẽm; nhựa… chiếm 4%), các bệnh thường gặp là bệnh về hô hấp, ngoài da, thần kinh, nhiễm độc, đặc biệt tỷ lệ người mắc bệnh ung thư tương đối cao. Các tại làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da (chiếm 17%), các bệnh chủ yếu tập trung vào đường hô hấp, tiêu hóa, thần kinh và bệnh ngoài da.  Còn lại, các nhóm ngành nghề khác như: Chế tạo nông cụ, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt giấy, dây thừng, đan vó, đan lưới làm lưỡi câu…, các bệnh thường gặp về hô hấp, xương khớp. Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá (chiếm 5%), các bệnh chủ yếu là bệnh hô hấp, tiêu hóa, phụ khoa và bệnh về mắt, giảm thính lực, xương khớp.

Phó Cục trưởng phụ trách Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) bà Nguyễn Liên Hương cho biết, hiện có 85 làng nghề cơ khí, tái chế kim loại tại 24 tỉnh, thành phố có nguy cơ phơi nhiễm kim loại nặng độc hại, trong đó có làng nghề Đông Mai. So với nhiều làng quê khác, những làng quê này thuộc loại giàu có hơn làng thuần nông, thế nhưng môi trường, sức khỏe người dân thì đáng báo động.


Thôn Đông Mai trong suốt 30 năm qua được biết đến là làng nghề tái chế chì từ pin và bình ắc quy hỏng được thu gom từ các địa phương trong cả nước. Ông Nguyễn Văn Thủy, phó Chủ tịch huyện Văn Lâm  cho biết, Đông Mai có 277 người trực tiếp tham gia tái chế chì, trong đó có 13 hộ dân tái chế chì ngay trong khu dân cư. Mặc dù địa phương đã nhiều lần tuyên truyền, nhắc nhở, xử phạt nhưng những hộ này vẫn chưa thể di dời cơ sở tái chế chì ra khỏi làng.

Từ năm 2007-2008, Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường đã tiến hành nghiên cứu về mức độ ô nhiễm môi trường tại xã Chỉ Đạo… Đáng lo ngại là năm 2014, kết quả xét nghiệm sàng lọc 109 trẻ ở làng Đông Mai cho thấy, 97% nhiễm chì trong máu, trong đó có 33 trẻ phải tẩy độc chì khẩn cấp do lượng chì trong máu cao gấp 6-7 lần cho phép. Nhiều trẻ dù gia đình không làm nghề thu gom, tái chế chì nhưng cũng có hàm lượng chì trong máu rất cao. Từ đó đến nay, nhiều giải pháp đã được đưa ra để cứu người dân, nhất là trẻ em khỏi những hậu quả do nhiễm độc chì ở làng nghề Đông Mai nhưng rồi “đâu vẫn vào đấy”.

Dẫn chứng về tác hại do ô nhiễm chì gây ra, bác sĩ Phạm Duệ, nguyên Giám đốc Trung tâm Chống độc (Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, tại một gia đình dù đã thay toàn bộ đất nền nhà bị nhiễm chì bằng nền đất mới nhưng đứa con sinh sau thời điểm đó vẫn có hàm lượng chì trong máu trên 60 mcg/dl. Điều này minh chứng, chì đã ngấm vào nguồn nước, không khí, thực phẩm… Khi trẻ chơi đùa, hít thở, ăn uống… trong môi trường nhiễm chì thì cũng bị nhiễm chì. “Với hàm lượng nhiễm chì này ảnh hưởng rất lớn tới trí tuệ của trẻ. Thực tế cho thấy, nhiễm chì ở mức càng cao thì chỉ số IQ của trẻ càng thấp, cứ tăng 1 mcg/dl thì trẻ sẽ mất 5 điểm về chỉ số IQ. Nếu không ngăn được nguồn ô nhiễm thì việc điều trị thải độc chì cho trẻ mà ngành y tế đang triển khai sẽ chẳng khác nào “đánh bùn sang ao””, bác sĩ Phạm Duệ nói.

Quả thực, để giải được “bài toán” ô nhiễm môi trường làng nghề không phải dễ. Thế nhưng, với “tốc độ” giải quyết như hiện tại thì những hệ lụy mà các làng nghề gây ra đối với sức khỏe con người sẽ khó đo đếm được. Các làng nghề ở Việt Nam, đặc biệt là những làng nghề vốn nhiều “tai tiếng” về ô nhiễm đang cần một cuộc “đại phẫu” thực sự, đồng bộ và toàn diện để hướng tới sự phát triển bền vững…

Để biết thêm thông tin, tìm với từ khóa
- Làng nghề bị nhiễm độc chì
- Cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết ô nhiễm từ các làng nghề
[Read More...]


Khi khai thác khoáng sản phải bồi thường thiệt hại về môi trường



Nhằm góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững và đảm bảo yêu cầu khai thác khoáng sản có hiệu quả, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xây dựng Dự thảo Thông tư yêu cầu tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác khoáng sản phải bồi thường các thiệt hại về môi trường do hoạt động khai thác, vận chuyển và chế biến khoáng sản gây ra.


Ảnh minh họa

Các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào hoạt động khai thác khoáng sản phải thực hiện các quy định về thủ tục, nội dung, tiến độ của Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Kế hoạch bảo vệ môi trường, cải tạo phục hồi môi trường là dự thảo Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được phê duyệt.

Cùng với đó, khi thực hiện các dự án khai thác khoáng sản nằm ở thượng nguồn các hồ chứa nước thủy lợi và dân sinh, các công trình cấp nước thủy lợi, các hệ thống thủy văn khu vực (sông, suối, khe, lạch...), tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác khoáng sản phải có biện pháp bảo đảm nguồn sinh thủy cho các công trình chứa, cấp nước, hệ thống thủy văn.

Tổ chức, cá nhân phải thực hiện các biện pháp khắc phục đối với các dự án khai thác, chế biến khoáng sản đã để xảy ra hiện tượng đổ thải, xả nước thải chưa qua xử lý, lấn chiếm và các hành vi khác có ảnh hưởng đến các công trình thủy lợi, dân sinh và hệ thống thủy văn.

Trong lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, các tổ chức, cá nhân cũng phải chịu sự thanh tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động của mình; có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chịu mọi phí tổn làm sạch môi trường theo đúng quy định hiện hành nếu gây ra suy thoái môi trường và sự cố môi trường.

Dự thảo cũng nêu rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động khai thác khoáng sản như: Cấm sử dụng đất sai mục đích; làm thoái hóa đất, ô nhiễm đất mà không có kế hoạch, biện pháp cải tạo, phục hồi; chôn lấp, đổ, xả các loại nước thải, chất thải nguy hại, bùn từ các trạm xừ lý nước, dầu mỡ thải, các loại hóa chất, dung môi, phụ gia trực tiếp xuống nền đất...

Các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động khai thác khoáng sản cũng phải có các biện pháp giảm thiểu bụi, tiếng ồn, chống cát bay, cát chảy trong quá trình khai thác, vận chuyển và chế biến khoáng sản; xây dựng khu đệm bằng cây xanh giữa khai trường và khu dân cư, lập hàng rào cây xanh dọc đường vận chuyển khoáng sản ngoài ranh giới mỏ.

Ngoài ra, dự thảo cũng đề cập đến việc các tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với thủ trưởng cơ quan ra quyết định thanh tra về kết luận và biện pháp xử lý của Đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên về bảo vệ môi trường.

Dự kiến, các quy định về quy chế bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản nêu trên sẽ có hiệu lực trong năm 2014.
[Read More...]


Rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng





Bộ Giao thông vận tải rà soát sửa đổi, ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý điều hành có nội dung liên quan đến các thủ tục thực hiện tiếp cận điện năng đối với lưới điện trung áp.


Ảnh minh họa


Triển khai thực hiện rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng, nhằm rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng áp dụng đối với khách hàng sử dụng điện có đề nghị đấu nối vào lưới điện trung áp, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 33/2014/TT-BCT ngày 10/10/2014. Theo đó, thời gian tiếp cận điện năng được quy định rút xuống còn từ 33-41 ngày, trong đó thời gian thực hiện thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước tương ứng là từ 15-23 ngày, thời gian thực hiện thủ tục của các đơn vị điện lực là 18 ngày.

Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, sau thời gian triển khai thực hiện Thông tư số 33/2014/TT-BCT và văn bản số 820/VPCP-KTN của Văn phòng Chính phủ ngày 30/1/2015 về rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng, một số địa phương đã và đang triển khai khá tốt. Tuy nhiên, nhìn chung Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hiện vẫn chưa ban hành các quy định về thời hạn giải quyết đối với các thủ tục thỏa thuận vị trí cột/trạm điện và hành lang lưới điện, cấp phép thi công xây dựng công trình điện.

Đồng thời, quy trình thực hiện còn phát sinh một số thủ tục như xác nhận phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất; cấp phép đối với đường điện qua rừng; đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường làm tăng thêm thời gian thực hiện tiếp cận điện năng. Bên cạnh đó, một số quy định vẫn chưa phù hợp với các quy định hiện hành...

Để khắc phục những hạn chế, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu, tiếp thu các kiến nghị của các cơ quan chức năng để rà soát sửa đổi, ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý điều hành có nội dung liên quan đến các thủ tục thực hiện tiếp cận điện năng đối với lưới điện trung áp.

Đồng thời, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản 820/VPCP-KTN về rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng đối với lưới điện trung áp, cụ thể là sớm ban hành các quy định về thời hạn giải quyết các thủ tục thỏa thuận vị trí cột/trạm điện và hành lang lưới điện, cấp phép thi công xây dựng công trình điện theo quy định của các cấp có thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
[Read More...]


Giám sát môi trường có đúng nghĩa giám sát



Hoạt động bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh chưa bao giờ đúng với nghĩa đen của nó thế mà tại phiên chất vấn giám đốc sở TN&MT đối với hoạt động bảo vệ môi trường  hình ảnh đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tay giơ cao một can nhựa đựng nước thải vàng khè mà theo lời đại biểu Đặng Văn Khoa cho biết là ông lấy nước thải tại con kênh xả thải của 1 bệnh viên lớn trong thành phố khi người dân phàn nàn và ông phải bỏ tiền túi ra để giám định mức ô nhiễm của nguồn nước. Điều này phần nào cho thấy một thực tế rằng sự giám sát bảo vệ môi trường của các cơ quan dân cử còn thiếu, yếu và chưa đạt được kỳ vọng của người dân.


Khai thác cát trên sông Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Ảnh: Dương Văn Thọ/PanNature)

Giám sát môi trường  của các cơ quan dân cử còn mờ nhạt

Trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay có hai loại giám sát: giám sát mang tính quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân và giám sát xã hội mang tính quyền lực nhân dân thông qua tổ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng các phương tiện thông tin đại chúng và các cá nhân, cộng đồng.

Hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là giám sát mang tính quyền lực nhà nước, được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một cơ quan hay một hệ thống các cơ quan nhà nước khác theo những nguyên tắc nhất định về sự phân công quyền lực nhà nước. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Quốc hội và HĐND các cấp thông qua các cơ quan của mình thực hiện quyền giám sát bằng các phương thức: xem xét, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cũng như việc thực hiện các biện pháp BVMT của chính quyền nhân dân các cấp.

Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và HĐND các cấp sẽ có điều kiện nhìn nhận lại những quy định, chính sách pháp luật xem đã phù hợp với yêu cầu quản lý cũng như thực tiễn của đời sống xã hội hay chưa. Thông qua đó, Quốc hội và HĐND yêu cầu các cơ quan, đơn vị chức năng kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ những gì không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, hoạt động giám sát cũng giúp làm rõ trách nhiệm của các cơ quan và quan chức được giao quyền. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động giám sát hiện vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ giám sát môi trường.

Hoạt động giám sát của Quốc hội hàng năm thường được thực hiện theo nghị quyết về giám sát của UBTV Quốc Hội và theo những chuyên đề nhất định. Riêng đối với hoạt động giám sát bảo vệ môi trường, lần giám sát gần nhất là cách đây… 4 năm, vào năm 2011, khi Ủy ban TVQH báo cáo giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề trên cả nước.

Tuy nhiên, những kiến nghị của báo cáo này vẫn chưa thực sự là cú hích đủ mạnh để thay đổi những vấn đề nổi cộm về môi trường tại khu kinh tế và làng nghề trong thời gian vừa qua. Thực ra, đây là một hạn chế ngẫu nhiên cho thấy Quốc hội hay cơ quan dân cử không thể có đủ nguồn lực và nhân lực khi thực hiện giám sát một lĩnh vực liên tục, kịp thời.

Mặt khác, công tác bảo vệ môi trường gắn liền với nhiều lĩnh vực khác nhau, với các tiêu chuẩn kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi đôn đốc thực hiện mạnh mẽ, nên hoạt động giám sát của quốc hội chưa thực sự có hiệu quả cao, nhiều kiến nghị thông qua hoạt động giám sát chưa được các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu giải quyết.

Một điểm khách quan làm giảm kết quả giám sát của các cơ quan dân cử đối với công tác BVMT là những thay đổi môi trường thường không tác động lên cộng đồng dân cư một cách tức thì. Hay nói cách khác, tính bức thiết của vấn đề môi trường chỉ được quan tâm khi môi trường đó đã hoàn toàn bị xâm hại hoặc có những tác động rõ rệt lên đời sống dân sinh.

Ngoài ra, một vấn đề được xem là tế nhị trong công tác bảo vệ môi trường là hiện tượng chính quyền địa phương đôi khi chấp nhận đánh đổi môi trường lấy kinh tế, lấy nhà đầu tư trong khi thiếu sự giám sát chặt chẽ của HĐND các cấp vì mục đích phát triển. Đây cũng chính là lý do hoạt động giám sát BVMT bị coi nhẹ.

Sự việc Hà Nội chặt cây xanh trong thời gian qua ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đô thị chỉ bị phản đối khi có tiếng nói của cộng đồng dân cư và các tổ chức xã hội dân sự. Đến nay vẫn chưa thấy sự lên tiếng của các cơ quan dân cử; của mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên trong giám sát bảo vệ môi trường. Điều này cho thấy sự chậm trễ trong hoạt động giám sát cũng như một bức tranh buồn về vai trò giám sát BVMT trong thời gian vừa qua.

Ô nhiễm khói thải tại Khu công nghiệp Xuyên Á, huyện Đức Hòa, Long An (Ảnh Dương Văn Thọ/PanNature)

Người dân giám sát bảo vệ môi trường – Chuyện muôn năm chẳng cũ

Luật bảo vệ môi trường 2014 đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng qua nhiều thời kỳ với mục tiêu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Luật BVMT cũng đã thể hiện điểm mới được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 khi xem QMT ngang hàng với những quyền căn bản nhất của con người: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Như vậy bảo vệ môi trường đã trở thành nghĩa vụ pháp lý quan trọng gắn liền với quyền của con người.

Theo nhiều nhận định, không cơ quan chức năng nào có thể giám sát tốt công tác bảo vệ môi trường và hiểu đặc thù của từng khu vực – nơi có các dự án đã, đang và sẽ đầu tư – bằng chính người dân sinh sống trên chính địa bàn đó. Trong thời gian vừa qua, hoạt động giám sát cộng đồng nhằm cụ thể hóa quy chế dân chủ ở cơ sở nói chung được đánh giá có nhiều kết quả tích cực. Người dân, thông qua ban giám sát cộng đồng đã bảo vệ khá hiệu quả những lợi ích sát sườn của mình như đầu tư cộng đồng, công khai hộ ngèo, công khai các chính sách an sinh ở địa phương… Trong hoạt động bảo vệ môi trường, sự tham gia của cộng đồng vào BVMT không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp BVMT, mà còn là lực lượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả, giúp các cơ quan quản lý môi trường giải quyết kịp thời ÔNMT ngay từ khi mới xuất hiện. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều quy định của pháp luật đề cập tới hoạt động giám sát của cộng đồng trong BVMT.

Trong 170 Điều của Luật bảo vệ môi trường có 443 lần cụm từ “BVMT” được nhắc tới. Tuy nhiên, ngoài những yêu cầu đối với người dân và cụm dân cư về BVMT thì Luật BVMT chỉ có 5 lần nhắc đến quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường, bao gồm: Quyền được tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường (Điều 7); Quyền được cung cấp thông tin về BVMT thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; Quyền được tìm hiểu thực tế về công tác BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; Quyền được yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở vi phạm về môi trường; Quyền được tham gia đánh giá kết quả BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn. Có thể xem các quyền nêu trên là một chuỗi quyền đối với vòng đời một dự án thực hiện tại khu dân cư. Cụ thể, trước khi dự án được triển khai người dân được tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường; khi dự án ở giai đoạn hoạt động thì người dân được cung cấp thông tin, được tìm hiểu thực tế vận hành của dự án; và được biết những sai phạm sau khi có kết luận của cơ quan thanh tra.

Vậy, với những quyền ấy được trao, QMT của cộng đồng dân cư liệu đã được đảm bảo chưa và họ có còn vướng mắc, khó khăn nào trong việc thực hiện quyền của mình?

Thứ nhất, những quyền nêu trên đều là những quyền mang tính thụ động, còn chung chung, khó thực hiện đối với cộng đồng không mang tính tổ chức nhà nước. Theo báo cáo nghiên cứu mới nhất về Chỉ số hiệu quả quản trị hành chính cấp tỉnh (PAPI) thì năm 2014 chỉ có 28,8% người dân được hỏi cho biết họ có biết đến pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; và cũng chỉ có 63,9% người dân được hỏi biết đến khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Kết quả trên cho thấy, ngay cả đối với những quyền lợi sát sườn của người dân thì sự quan tâm cũng chưa thực sự cao. Trong khi đó, hiện chưa có một cơ chế nào có thể đảm bảo rằng người dân có thể thực hiện đầy đủ 5 quyền về môi trường được nêu ở trên.

Đối với quyền tham vấn trong đánh giá tác động môi trường, thì việc xác định rõ các đối tượng “thụ hưởng” hay “chịu tác động xấu” về môi trường của dự án trong tương lai vẫn được xem là khá mơ hồ và hiện không có cơ chế hữu hiệu đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của cư dân khi dự án hoàn thành đi vào sản xuất. Nước thải, khí thải ô nhiễm bao vây khu dân cư vẫn là thực trạng khá phổ biến tại các khu vực dự án. Trong khi đó, hoạt động tham vấn cộng đồng đã bị dừng ngay sau khi đề án được phê duyệt. Nhiều ý kiến cho rằng quyền tham vấn thực ra chỉ mang tính hình thức, trở thành một thủ tục đối với doanh nghiệp khi mà các báo cáo đánh giá tác động môi trường ít nhận được sự phản hồi của cộng đồng dân cư nơi có dự án, trừ các dự án nhạy cảm như xử lý rác thải, nhà máy hóa chất… Bởi xét cho đến cùng, việc nhà đầu tư “qua mặt” trong việc thông qua báo cáo này là chuyện dễ dàng trong bối cảnh công khai, minh bạch ở chính quyền địa phương còn hạn chế và người dân thường thiếu sự tuyên truyền, hỗ trợ của các tổ chức có chuyên môn về đánh giá tác động môi trường. Và như vậy, quyền được tham vấn trong đánh giá tác động môi trường khi đó chỉ dừng lại ở quyền hình thức (formalism power).

Thứ hai, QMT quy định trong Luật bảo vệ môi trường dường như đề cập tới “quyền nghĩa vụ” hơn là “quyền lợi”. Quyền nghĩa vụ có nghĩa là người dân có thể thực hiện hoặc không thực hiện; còn quyền lợi là quyền mà nếu người dân thực hiện thì họ sẽ được lợi. Như đã đề cập ở trên, việc người dân chưa được tuyên truyền về lợi lợi ích khi tham gia BVMT thì họ vẫn xem đấy là quyền nghĩa vụ. Đây chính là một trong những rào cản vô hình làm giảm quyền BVMT của người dân.

Vấn đề khó thứ ba trong đảm bảo thực hiện quyền bảo vệ môi trường của người dân và cộng đồng chính là sự chồng chéo trong quản lý và trách nhiệm của các cơ quan chức năng, bên cạnh sự thiếu hỗ trợ trực tiếp của cơ quan chủ quản về môi trường. Tại điều 142 Luật bảo vệ môi trường quy định rất rõ vai trò của nhiều bộ, ngành trong việc phối hợp với Bộ TN&MT trong quản lý BVMT. Tuy nhiên, sự hỗ trợ trực tiếp của ngành tài nguyên môi trường để người dân có “cửa” thực hiện QMT của mình còn hạn chế! Đấy chính là sự khuyến khích, bảo vệ người dân tham gia BVMT. Vụ công ty Nicotex Thanh Thái chôn hơn 1000 tấn chất thải độc hại trong khu vực nhà máy là một ví dụ điển hình. Sau khi vụ việc được đưa ra kết luận, những người tố cáo tiêu cực vẫn thường xuyên bị đe dọa và không còn nhận được sự bảo vệ từ các cơ quan chức năng. Trong khi đó, cơ chế phối hợp giữa bộ, ngành với hệ thống cơ quan TN&MT các cấp chỉ được thực hiện hiệu quả khi phát hiện ra môi trường đó đã bị xâm hại. Người dân khi muốn kiến nghị hay phản ánh vấn đề ÔNMT vì vậy thường phải thông qua nhiều kênh, nhiều cấp, nhiều cơ quan, gây tốn kém về thời gian, công sức và tiền của.

Một số kiến nghị – giải pháp

Vấn đề thể chế hóa QMT và tuyên truyền về quyền này vẫn được xem là giải pháp đầu tiên và quan trọng trong việc phát huy QMT của cộng đồng. Việc tuyên truyền pháp luật, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư cần được thực hiện mạnh mẽ, thực chất hơn nữa trong thời gian tới để người dân có thể thực hiện được quyền của mình. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức nhằm phát huy và thúc đẩy các quyền của cộng đồng, tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách BVMT; tăng cường sự tham gia và chia sẻ lợi ích cộng đồng trong các vấn đề quản lý, giám sát, phát hiện và tố giác các hành vi gây ÔNMT cũng cần được đẩy mạnh.

Cùng với việc tuyên truyền thì nhà nước cần phải nâng cao quyền tiếp cận thông tin về môi trường thông qua việc công khai thông tin, dữ liệu môi trường chủ động từ phía chính quyền các cấp, từ phía doanh nghiệp và đưa ra chế tài cụ thể đối với chủ doanh nghiệp, cơ quan chuyên môn không thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin.

Ngoài ra, cần tăng cường và thể chế hóa Quyền tham gia vào hoạt động BVMT của người dân. Cụ thể, cần có những quy định cho phép tổ chức đối thoại về các vấn đề liên quan đến môi trường; quy định về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường cũng như quy định quyền khiếu nại, hoặc khởi kiện ra tòa khi có căn cứ cho rằng đã có những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về BVMT, vi phạm quyền tham gia vào hoạt động BVMT của cá nhân, tổ chức. Mọi cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại, tố cáo lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu yêu cầu đối thoại của họ bị từ chối…

Đặc biệt, cần tăng cường trách nhiệm giải trình và chịu trách nhiệm của các cá nhân, tập thể có thẩm quyền trong việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng như trách nhiệm của các đơn vị, tổ chức về những sai phạm trong thực hiện đánh giá tác động môi trường.

Một hoạt động cũng cần được xúc tiến là tăng cường trợ giúp pháp lý đối với các nhóm yếu thế trong xã hội vớicác hoạt động liên quan đến BVMT

Cuối cùng, cần tăng mức xử lý vi phạm hành chính và xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với cá nhân có liên quan gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống của người dân.

Tìm kiếm qua từ khóa :

- Kế hoạch bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Mình
- Giám sát bảo vệ môi trường thành phố
[Read More...]


 

Recent Comments

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2010 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Thanh Tu