Khai thác cát trái phép - nguy cơ sạt lở





Trong những ngày vừa qua, tình trạng khai thác cát trái phép diễn ra liên tục trên nhiều địa bàn trong cả nước. Hậu quả trực tiếp của việc này là sạt lở đất ở và đất sản xuất của người dân, gây biến đổi dòng chảy, làm thất thoát nguồn tài nguyên khoáng sản...

Ảnh minh họa

Trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, bình quân mỗi ngày có từ 7 – 10 tàu khai thác cát trên sông Krông Nô. Tổng diện tích đất sản xuất bị sạt lở gần 60 ha (của 84 hộ dân dọc bờ sông). Nhiều hộ dân buộc phải bán đất vì lo sợ sạt lở.

Trộm cát vẫn diễn ra đều đặn

Dù đã bị xử phạt nhiều lần, các đối tượng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi, lén lút trộm cát của mình.

Mới đây vào 29/08, tại địa bàn huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, đoàn kiểm tra liên ngành khoáng sản đã bắt quả tang 4 ghe không biển kiểm soát có tải trọng từ 4 tấn đến 15 tấn đang khai thác cát trái phép trên tuyến sông Hàm Luông địa phận xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc và 1 tàu sắt khai thác cát trái phép trên sông Cổ Chiên thuộc địa bàn xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc. 

Ảnh minh họa
Căn cứ vào lượng cát mà các đối tượng đã khai thác trái phép, cơ quan chức năng đã cảnh cáo 3 phương tiện và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 10 triệu đồng đối với chủ phương tiện là ông Lương Thanh Hùng, sinh năm 1972 ngụ tại xã Thanh Tân , huyện Mỏ Cày Bắc điều khiển. Đối với phương tiện khai thác cát trái phép trên sông Cổ Chiên thì xử phạt vi phạm hành chính 35 triệu đồng và buộc bơm cát trả lại lòng sông.

Mặc dù trước đó, cũng trên địa phận sông Hàm Luông, đội cảnh sát kinh tế Công an huyện Mỏ Cày Bắc cũng đã xử phạt vi phạm hành chính 35 triệu đồng đối với Hồ Văn Thiện, 21 tuổi, ngụ huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về hành vi khai thác cát trái phép, đồng thời buộc Thiện phải bơm số cát khai thác trái phép trả lại lòng sông.

Khó khăn vấp phải

Trước tình hình khai thác trái phép quá mức như vậy dù đã có nhiều biện pháp nhưng các chính quyền địa phương vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm tra và giám sát.


Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long qua 16 đợt kiểm tra tài nguyên khoáng sản cát sông, các ngành chức năng đã phát hiện 21 trường hợp không có giấy phép, xử phạt hành chính 13 trường hợp, chuyển 8 trường hợp cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh. Còn lực lượng công an tỉnh Đắk Nông đã phát hiện 20 vụ khai thác cát trái phép, tịch thu 1 xà lan hút cát. Nhưng đó không phải là tất cả, vẫn còn rất nhiều trường hợp vi phạm chưa bị phát hiện.

Sau rất nhiều nỗ lực và cố gắng trong việc thanh tra, giám sát nhưng tình trạng khai thác trái phép vẫn diễn ra phức tạp, hành vi vi phạm ngày càng tinh vi, chủ yếu là hoạt động ban đêm, trong ngày lễ, ngày nghỉ… khai thác và tiêu thụ ngay trong đêm.

Ảnh minh họa


Bên cạnh đó, trang thiết bị thì thiếu thốn, đội ngũ cán bộ chuyên môn thì yếu kém, văn bản pháp luật xử lý vi phạm còn nhiều bất cập. Hơn nữa, không có sự thống nhất, phối hợp chặt chẽ giữa các tỉnh với nhau.

Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, khai thác cát sông, chính quyền địa phương cần tăng cường phổ biến, tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của các chủ mỏ cát, bổ sung đội ngũ cán bộ và kiện toàn về nghiệp vụ chuyên môn các lực lượng chức năng trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường của các tỉnh giáp ranh và phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phát hiện của người dân trong khu vực khai thác. Bên cạnh đó, Tỉnh kiến nghị Trung ương bổ sung quy định thu hồi giấy phép đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản có nhiều tình tiết tăng nặng, vi phạm nhiều lần để tăng tính nghiêm minh, góp phần chấn chỉnh hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn.




















[Read More...]


Người dân ngăn chặn các doanh nghiệp khai thác đá



Để nghiêm cấm các hoạt động khai thác, vận chuyển đá tại các cụm mỏ đá Lạc Tiến hàng chục người dân từ các thông Lạc Sơn,xã Cà Ná và thôn Lạc Tiến, xã Phước Minh , tỉnh Ninh Thuận  đã dựng lán trại nằm cả ngày lẫn đêm trong hơn 10 ngày qua.
Lều trại được người dân dựng và tập trung để ngăn chặn hoạt động, vận chuyển đá tại cụm mỏ đá Lạc Tiến


Tình trạng này không những làm tê liệt hoàn toàn hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương.

Nguyên nhân vụ việc được xác định là do ô nhiễm môi trường bởi bụi đá, nhà cửa nứt nẻ do nổ mìn khai thác đá gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của hàng trăm hộ dân nơi đây.

Mỏ đá này hiện có 4 doanh nghiệp được tỉnh cấp phép và đi vào hoạt động khai thác đá (nổ mìn lấy đá, nghiền đá, trộn đá với hắc ín) phục vụ nâng cấp, mở rộng tuyến quốc lộ 1A và các công trình khác.

Do nhu cầu về vật liệu xây dựng lớn nên gần đây, cụm mỏ đã tăng cường hoạt động khai thác để đáp ứng. Việc nổ mìn phá đá, hoạt động máy nghiền đá đã làm hàng trăm hộ dân sống gần đó bị ảnh hưởng nghiêm trọng do bụi đất, bụi đá ập vào, nhất là thời điểm này, gió TN thổi mạnh đã đưa lượng lớn bụi từ cụm mỏ đá dồn vào khu dân cư. Không những phải sống trong cảnh môi trường ô nhiễm do bụi bẩm, mà người dân còn âu lo khi phải sống trong cảnh nhà bị nứt, có thể sập đổ bất cứ lúc nào.

Bà Nguyễn Thị Bích Vân bức xúc cho biết: "Chúng tôi lên đây kiến nghị đã hơn 10 hôm rồi nhưng không thấy bóng dáng lãnh đạo công ty nào đứng ra nói với dân để dân thỏa mãn, dân đi. Vì vậy, chúng tôi bức xúc kéo lên ngăn chặn. Mong các cấp chính quyền làm như thế nào để giải quyết bớt đi ô nhiễm, trả lại môi trường trong sạch cho người dân sinh sống."

Phó Giám đốc Công ty vận tải Phú Khang (Ông Lê Tôn Vinh) cho biết nguyên nhân sâu xa nhất là vấn đề phát triển nóng của đường quốc lộ 1A, đẩy các doanh nghiệp tăng công suất hoạt động. Hơn nữa các trạm trộn sử dụng công nghệ đốt dầu chưa đạt chuẩn, phát tán mùi hôi ra môi trường.

Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Phước Minh Trần Mạnh Cương cho biết cụm mỏ đá này không thuộc địa giới hành chính của xã Phước Minh quản lý, mà thuộc xã Cà Ná. Nhưng khi các doanh nghiệp hoạt động khai thác đá, gây ra hậu quả trên thì người gánh chịu lại là dân Phước Minh.

Ông Cương cho biết đã tổ chức 4 lần đối thoại với người dân, tuy nhiên người dân vẫn bức xúc kéo đến ngăn chặn hoạt động khai thác đá.

Khi vụ việc xảy ra, các cơ quan chức năng của tỉnh Ninh Thuận đã cho ngừng hoạt động khai thác, chế biến đá tại cụm mỏ, đồng thời phối hợp với huyện Thuận Nam tiến hành họp dân để có biện pháp xử lý.

Với góc độ là cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực tài nguyên môi trường, ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã giao Sở TN & MT thành lập đoàn kiểm tra, tiến hành kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp đang khai thác, chế biến đá tại cụm mỏ đá này.

Ông Lê Huyền, Phó Giám đốc Sở TN & MT tỉnh Ninh Thuận cho biết với trách nhiệm là cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên môi trường trên địa tỉnh thì sở cũng đã phối hợp với địa phương kiểm tra và nắm bắt tình hình, sau đó tổ chức thực hiện nhiệm vụ quan trắc môi trường trong điều kiện chỉ có 1 trạm trộn bêtông và một trạm nghiền đá của công ty An Cường hoạt động.

Giám đốc Sở Tài Nguyên và Môi trường đã tổ chức đối thoại, trong đó đã đặt ra vấn đề phải tổ chức đoàn kiểm tra để kiểm tra, đánh giá lại việc tổ chức hoạt động của các mỏ đá trong cụm mỏ, đặt biệt là công tác bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó kiểm tra nội dung phản ánh của bà con liên quan về vấn đề môi trường đối với thôn Lạc Tiến, xã Phước Minh, kể cả thôn Lạc Sơn, xã Cà Ná.

Sau đối thoại, Sở đã có quyết định thành lập đoàn kiểm tra, công bố quyết định này đến địa phương và các doanh nghiệp. Hiện đoàn cũng đang tiến hành các thủ tục để kiểm tra theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra trong quá trình làm việc với các mỏ đang khai thác thì có một vấn đề đó là hiện nay nguồn nước để thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, cụ thể để dập bụi trong quá trình nổ mìn, khai thác, chế biến và vận chuyển đá đang đặt ra khó khăn cho các doanh nghiệp. Sở cũng đã bàn với địa phương và công ty cấp nước sẽ thực hiện việc cấp nước vào cụm mỏ để các doanh nghiệp đảm bảo nguồn nước đầy đủ, phục vụ cho việc bảo vệ môi trường.

Trong thời gian tới, để tăng cường việc giám sát của cơ quan nhà nước, đặc biệt là chính quyền địa phương và người dân đối với hoạt động mỏ đá này, nhất là việc bảo vệ môi trường, Sở đã phối hợp với địa phương thành lập 2 tổ giám sát môi trường do đại diện cộng đồng nhân dân, chính quyền địa phương 2 xã Phước Minh và Cà Ná để thường xuyên giám sát việc bảo vệ môi trường, qua đó phối hợp với cơ quan chức năng xử lý nghiêm nếu có sai phạm.

Các doanh nghiệp khai thác đá tại cụm mỏ đá Lạc Tiến có gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Nếu có thì ở mức độ nào, biện pháp xử lý ra sao. Những câu hỏi này rất cần các cơ quan chức năng sớm kiểm tra, xử lý để người dân khỏi bức xúc, ngăn chặn hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp

Tìm nhiều nhất :

- giám sát môi trường định kỳ cơ sở khai thác đá
- báo cáo giám sát môi trường ngành khai thác
[Read More...]


Giám sát môi trường có đúng nghĩa giám sát



Hoạt động bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh chưa bao giờ đúng với nghĩa đen của nó thế mà tại phiên chất vấn giám đốc sở TN&MT đối với hoạt động bảo vệ môi trường  hình ảnh đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tay giơ cao một can nhựa đựng nước thải vàng khè mà theo lời đại biểu Đặng Văn Khoa cho biết là ông lấy nước thải tại con kênh xả thải của 1 bệnh viên lớn trong thành phố khi người dân phàn nàn và ông phải bỏ tiền túi ra để giám định mức ô nhiễm của nguồn nước. Điều này phần nào cho thấy một thực tế rằng sự giám sát bảo vệ môi trường của các cơ quan dân cử còn thiếu, yếu và chưa đạt được kỳ vọng của người dân.


Khai thác cát trên sông Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Ảnh: Dương Văn Thọ/PanNature)

Giám sát môi trường  của các cơ quan dân cử còn mờ nhạt

Trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay có hai loại giám sát: giám sát mang tính quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân và giám sát xã hội mang tính quyền lực nhân dân thông qua tổ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng các phương tiện thông tin đại chúng và các cá nhân, cộng đồng.

Hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là giám sát mang tính quyền lực nhà nước, được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một cơ quan hay một hệ thống các cơ quan nhà nước khác theo những nguyên tắc nhất định về sự phân công quyền lực nhà nước. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Quốc hội và HĐND các cấp thông qua các cơ quan của mình thực hiện quyền giám sát bằng các phương thức: xem xét, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cũng như việc thực hiện các biện pháp BVMT của chính quyền nhân dân các cấp.

Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và HĐND các cấp sẽ có điều kiện nhìn nhận lại những quy định, chính sách pháp luật xem đã phù hợp với yêu cầu quản lý cũng như thực tiễn của đời sống xã hội hay chưa. Thông qua đó, Quốc hội và HĐND yêu cầu các cơ quan, đơn vị chức năng kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ những gì không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, hoạt động giám sát cũng giúp làm rõ trách nhiệm của các cơ quan và quan chức được giao quyền. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động giám sát hiện vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ giám sát môi trường.

Hoạt động giám sát của Quốc hội hàng năm thường được thực hiện theo nghị quyết về giám sát của UBTV Quốc Hội và theo những chuyên đề nhất định. Riêng đối với hoạt động giám sát bảo vệ môi trường, lần giám sát gần nhất là cách đây… 4 năm, vào năm 2011, khi Ủy ban TVQH báo cáo giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề trên cả nước.

Tuy nhiên, những kiến nghị của báo cáo này vẫn chưa thực sự là cú hích đủ mạnh để thay đổi những vấn đề nổi cộm về môi trường tại khu kinh tế và làng nghề trong thời gian vừa qua. Thực ra, đây là một hạn chế ngẫu nhiên cho thấy Quốc hội hay cơ quan dân cử không thể có đủ nguồn lực và nhân lực khi thực hiện giám sát một lĩnh vực liên tục, kịp thời.

Mặt khác, công tác bảo vệ môi trường gắn liền với nhiều lĩnh vực khác nhau, với các tiêu chuẩn kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi đôn đốc thực hiện mạnh mẽ, nên hoạt động giám sát của quốc hội chưa thực sự có hiệu quả cao, nhiều kiến nghị thông qua hoạt động giám sát chưa được các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu giải quyết.

Một điểm khách quan làm giảm kết quả giám sát của các cơ quan dân cử đối với công tác BVMT là những thay đổi môi trường thường không tác động lên cộng đồng dân cư một cách tức thì. Hay nói cách khác, tính bức thiết của vấn đề môi trường chỉ được quan tâm khi môi trường đó đã hoàn toàn bị xâm hại hoặc có những tác động rõ rệt lên đời sống dân sinh.

Ngoài ra, một vấn đề được xem là tế nhị trong công tác bảo vệ môi trường là hiện tượng chính quyền địa phương đôi khi chấp nhận đánh đổi môi trường lấy kinh tế, lấy nhà đầu tư trong khi thiếu sự giám sát chặt chẽ của HĐND các cấp vì mục đích phát triển. Đây cũng chính là lý do hoạt động giám sát BVMT bị coi nhẹ.

Sự việc Hà Nội chặt cây xanh trong thời gian qua ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đô thị chỉ bị phản đối khi có tiếng nói của cộng đồng dân cư và các tổ chức xã hội dân sự. Đến nay vẫn chưa thấy sự lên tiếng của các cơ quan dân cử; của mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên trong giám sát bảo vệ môi trường. Điều này cho thấy sự chậm trễ trong hoạt động giám sát cũng như một bức tranh buồn về vai trò giám sát BVMT trong thời gian vừa qua.

Ô nhiễm khói thải tại Khu công nghiệp Xuyên Á, huyện Đức Hòa, Long An (Ảnh Dương Văn Thọ/PanNature)

Người dân giám sát bảo vệ môi trường – Chuyện muôn năm chẳng cũ

Luật bảo vệ môi trường 2014 đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng qua nhiều thời kỳ với mục tiêu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Luật BVMT cũng đã thể hiện điểm mới được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 khi xem QMT ngang hàng với những quyền căn bản nhất của con người: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Như vậy bảo vệ môi trường đã trở thành nghĩa vụ pháp lý quan trọng gắn liền với quyền của con người.

Theo nhiều nhận định, không cơ quan chức năng nào có thể giám sát tốt công tác bảo vệ môi trường và hiểu đặc thù của từng khu vực – nơi có các dự án đã, đang và sẽ đầu tư – bằng chính người dân sinh sống trên chính địa bàn đó. Trong thời gian vừa qua, hoạt động giám sát cộng đồng nhằm cụ thể hóa quy chế dân chủ ở cơ sở nói chung được đánh giá có nhiều kết quả tích cực. Người dân, thông qua ban giám sát cộng đồng đã bảo vệ khá hiệu quả những lợi ích sát sườn của mình như đầu tư cộng đồng, công khai hộ ngèo, công khai các chính sách an sinh ở địa phương… Trong hoạt động bảo vệ môi trường, sự tham gia của cộng đồng vào BVMT không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp BVMT, mà còn là lực lượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả, giúp các cơ quan quản lý môi trường giải quyết kịp thời ÔNMT ngay từ khi mới xuất hiện. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều quy định của pháp luật đề cập tới hoạt động giám sát của cộng đồng trong BVMT.

Trong 170 Điều của Luật bảo vệ môi trường có 443 lần cụm từ “BVMT” được nhắc tới. Tuy nhiên, ngoài những yêu cầu đối với người dân và cụm dân cư về BVMT thì Luật BVMT chỉ có 5 lần nhắc đến quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường, bao gồm: Quyền được tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường (Điều 7); Quyền được cung cấp thông tin về BVMT thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; Quyền được tìm hiểu thực tế về công tác BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; Quyền được yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở vi phạm về môi trường; Quyền được tham gia đánh giá kết quả BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn. Có thể xem các quyền nêu trên là một chuỗi quyền đối với vòng đời một dự án thực hiện tại khu dân cư. Cụ thể, trước khi dự án được triển khai người dân được tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường; khi dự án ở giai đoạn hoạt động thì người dân được cung cấp thông tin, được tìm hiểu thực tế vận hành của dự án; và được biết những sai phạm sau khi có kết luận của cơ quan thanh tra.

Vậy, với những quyền ấy được trao, QMT của cộng đồng dân cư liệu đã được đảm bảo chưa và họ có còn vướng mắc, khó khăn nào trong việc thực hiện quyền của mình?

Thứ nhất, những quyền nêu trên đều là những quyền mang tính thụ động, còn chung chung, khó thực hiện đối với cộng đồng không mang tính tổ chức nhà nước. Theo báo cáo nghiên cứu mới nhất về Chỉ số hiệu quả quản trị hành chính cấp tỉnh (PAPI) thì năm 2014 chỉ có 28,8% người dân được hỏi cho biết họ có biết đến pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; và cũng chỉ có 63,9% người dân được hỏi biết đến khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Kết quả trên cho thấy, ngay cả đối với những quyền lợi sát sườn của người dân thì sự quan tâm cũng chưa thực sự cao. Trong khi đó, hiện chưa có một cơ chế nào có thể đảm bảo rằng người dân có thể thực hiện đầy đủ 5 quyền về môi trường được nêu ở trên.

Đối với quyền tham vấn trong đánh giá tác động môi trường, thì việc xác định rõ các đối tượng “thụ hưởng” hay “chịu tác động xấu” về môi trường của dự án trong tương lai vẫn được xem là khá mơ hồ và hiện không có cơ chế hữu hiệu đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của cư dân khi dự án hoàn thành đi vào sản xuất. Nước thải, khí thải ô nhiễm bao vây khu dân cư vẫn là thực trạng khá phổ biến tại các khu vực dự án. Trong khi đó, hoạt động tham vấn cộng đồng đã bị dừng ngay sau khi đề án được phê duyệt. Nhiều ý kiến cho rằng quyền tham vấn thực ra chỉ mang tính hình thức, trở thành một thủ tục đối với doanh nghiệp khi mà các báo cáo đánh giá tác động môi trường ít nhận được sự phản hồi của cộng đồng dân cư nơi có dự án, trừ các dự án nhạy cảm như xử lý rác thải, nhà máy hóa chất… Bởi xét cho đến cùng, việc nhà đầu tư “qua mặt” trong việc thông qua báo cáo này là chuyện dễ dàng trong bối cảnh công khai, minh bạch ở chính quyền địa phương còn hạn chế và người dân thường thiếu sự tuyên truyền, hỗ trợ của các tổ chức có chuyên môn về đánh giá tác động môi trường. Và như vậy, quyền được tham vấn trong đánh giá tác động môi trường khi đó chỉ dừng lại ở quyền hình thức (formalism power).

Thứ hai, QMT quy định trong Luật bảo vệ môi trường dường như đề cập tới “quyền nghĩa vụ” hơn là “quyền lợi”. Quyền nghĩa vụ có nghĩa là người dân có thể thực hiện hoặc không thực hiện; còn quyền lợi là quyền mà nếu người dân thực hiện thì họ sẽ được lợi. Như đã đề cập ở trên, việc người dân chưa được tuyên truyền về lợi lợi ích khi tham gia BVMT thì họ vẫn xem đấy là quyền nghĩa vụ. Đây chính là một trong những rào cản vô hình làm giảm quyền BVMT của người dân.

Vấn đề khó thứ ba trong đảm bảo thực hiện quyền bảo vệ môi trường của người dân và cộng đồng chính là sự chồng chéo trong quản lý và trách nhiệm của các cơ quan chức năng, bên cạnh sự thiếu hỗ trợ trực tiếp của cơ quan chủ quản về môi trường. Tại điều 142 Luật bảo vệ môi trường quy định rất rõ vai trò của nhiều bộ, ngành trong việc phối hợp với Bộ TN&MT trong quản lý BVMT. Tuy nhiên, sự hỗ trợ trực tiếp của ngành tài nguyên môi trường để người dân có “cửa” thực hiện QMT của mình còn hạn chế! Đấy chính là sự khuyến khích, bảo vệ người dân tham gia BVMT. Vụ công ty Nicotex Thanh Thái chôn hơn 1000 tấn chất thải độc hại trong khu vực nhà máy là một ví dụ điển hình. Sau khi vụ việc được đưa ra kết luận, những người tố cáo tiêu cực vẫn thường xuyên bị đe dọa và không còn nhận được sự bảo vệ từ các cơ quan chức năng. Trong khi đó, cơ chế phối hợp giữa bộ, ngành với hệ thống cơ quan TN&MT các cấp chỉ được thực hiện hiệu quả khi phát hiện ra môi trường đó đã bị xâm hại. Người dân khi muốn kiến nghị hay phản ánh vấn đề ÔNMT vì vậy thường phải thông qua nhiều kênh, nhiều cấp, nhiều cơ quan, gây tốn kém về thời gian, công sức và tiền của.

Một số kiến nghị – giải pháp

Vấn đề thể chế hóa QMT và tuyên truyền về quyền này vẫn được xem là giải pháp đầu tiên và quan trọng trong việc phát huy QMT của cộng đồng. Việc tuyên truyền pháp luật, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư cần được thực hiện mạnh mẽ, thực chất hơn nữa trong thời gian tới để người dân có thể thực hiện được quyền của mình. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức nhằm phát huy và thúc đẩy các quyền của cộng đồng, tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách BVMT; tăng cường sự tham gia và chia sẻ lợi ích cộng đồng trong các vấn đề quản lý, giám sát, phát hiện và tố giác các hành vi gây ÔNMT cũng cần được đẩy mạnh.

Cùng với việc tuyên truyền thì nhà nước cần phải nâng cao quyền tiếp cận thông tin về môi trường thông qua việc công khai thông tin, dữ liệu môi trường chủ động từ phía chính quyền các cấp, từ phía doanh nghiệp và đưa ra chế tài cụ thể đối với chủ doanh nghiệp, cơ quan chuyên môn không thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin.

Ngoài ra, cần tăng cường và thể chế hóa Quyền tham gia vào hoạt động BVMT của người dân. Cụ thể, cần có những quy định cho phép tổ chức đối thoại về các vấn đề liên quan đến môi trường; quy định về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường cũng như quy định quyền khiếu nại, hoặc khởi kiện ra tòa khi có căn cứ cho rằng đã có những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về BVMT, vi phạm quyền tham gia vào hoạt động BVMT của cá nhân, tổ chức. Mọi cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại, tố cáo lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu yêu cầu đối thoại của họ bị từ chối…

Đặc biệt, cần tăng cường trách nhiệm giải trình và chịu trách nhiệm của các cá nhân, tập thể có thẩm quyền trong việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng như trách nhiệm của các đơn vị, tổ chức về những sai phạm trong thực hiện đánh giá tác động môi trường.

Một hoạt động cũng cần được xúc tiến là tăng cường trợ giúp pháp lý đối với các nhóm yếu thế trong xã hội vớicác hoạt động liên quan đến BVMT

Cuối cùng, cần tăng mức xử lý vi phạm hành chính và xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với cá nhân có liên quan gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống của người dân.

Tìm kiếm qua từ khóa :

- Kế hoạch bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Mình
- Giám sát bảo vệ môi trường thành phố
[Read More...]


Lập báo cáo giám sát môi trường định kỳ 6 tháng cho cơ sở nha khoa



Hiện nay kỹ thuật của các cơ sở nha khoa đã có nhiều sự phát triển yêu cầu các cơ sở này cần phải đầu tư trang thiết bị hiện đại,  sự phối hợp giữa nhiều bác sĩ với nhiều chuyên môn khác nhau như phẫu thuật , chỉnh hình răng, chăm sóc dự phòng.



Đó là lý do mà các cơ sở nha khoa này phát sinh nhiều hậu quả ảnh hưởng tới môi trường như nước thải, chất thải…. mà nguyên nhân do chính bản thân chúng ta gây nên. Bên cạnh đó, ý thức của môi số cơ sở và nhân viên về vấn đề này vẫn còn hạn chế các cơ sở còn lơ là làm báo cáo giám sát môi trường định kỳ cho cơ sở Nha Khoa, Vì vậy tình trạng ô nhiễm càng nghiêm trọng.

Lý do phải lập báo cáo giám sát môi trường định kỳ 6 tháng/lần cho cơ sở nha khoa ?

Như thông tin truyền thông đã cho chúng ta thấy môi trường trong các cơ sở nha khoa ” lo làm đẹp cho bệnh nhân mà quên đi vấn đề bảo vệ môi trường và bảo vệ chính bản thân chúng ta ” . Một vài ví dụ có thể cho chúng ta thấy được trình trạng ô nhiễm cơ sở  phòng khám nha khoa hiên nay:

Nguyên nhân nào gây lên sự ô nhiễm trong môi trường nha khoa ?

Nước thải của các cơ sở phòng khám nha khoa bao gồm nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và nước thải của hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm tại các khoa phòng. Đáng chú ý của nước thải phòng khám nha khoa là nước thải của hoạt động khám chữa bệnh và nước thải của phòng xét nghiệm.

Ngoài nước thải còn có rác thải y tế, tính đến nay có khoảng 50% số cơ sở Nha Khoa tại Việt Nam vẫn chưa áp dụng quy trình xử lý rác y tế đạt chuẩn. Mỗi ngày, ngành y tế thải ra từ 350 đến 450 tấn rác thải, trong đó có 40 tấn thuộc loại độc hại. Tác hại của rác thải đến cuộc sống của người dân là rất nghiêm trọng nếu không được xử lý đúng cách. Riêng việc nước thải và nước rỉ ra từ chất thải rắn của các cơ sở nha khoa thấm xuống đất lâu ngày cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt. Đây là một bài toán đau đầu cho các nhà khoa học và môi trường Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta đang từng bước giải quyết vấn đề nan giải này một cách tích cực. Vì vậy chúng ta cần làm báo cáo giám sát môi trường Nha Khoa.

Như vậy làm sao để bản báo cáo giám sát môi trường định kỳ nha khoa có hiệu quả cho cơ quan chức năng? Mất thời gian bao lâu?

Làm sao để xử lý môi trường Nha Khoa không bị ô nhiễm trầm trọng ?

Để giải quyết những khó khăn trên, công ty tư vấn môi trường Minh Việt sẽ là nơi để các bạn lựa chon hoàn hảo nhất bởi vì:

Chúng tôi với đội ngũ chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm sẽ hỗ trợ tư vấn miễn phí tốt nhất cho bạn.
Chúng tôi chuyên lo về pháp lý và các dịch vụ giấy xin cấp giấy phép môi trường nhiều năm nhanh – rẻ. bởi các mối quan hệ và sự quen thuộc trong nghành.


Quy trình thực hiện lập báo cáo giám sát môi trường nha khoa

Khảo sát, thu thập số liệu về hiện trạng hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh.
Khảo sát, thu thập số liệu về hiện trạng môi trường xung quanh khu vực dự án.
Khảo sát điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH liên quan đến hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh
Xác định các nguồn gây ô nhiễm của dự án như: khí thải, nước thải, chất thải rắn, tiếng ồn; xác định các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của dự án.
Thu mẫu nước thải, mẫu không khí tại nguồn thải và khí xung quanh khuôn viên dự án, sau đó phân tích tại phòng thí nghiệm.
Đánh giá mức độ tác động của các nguồn ô nhiễm đến các yếu tố tài nguyên và môi trường.
Liệt kê và đánh giá các giải pháp tổng thể, các hạng mục công trình bảo vệ môi trường được thực hiện.
Xây dựng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và dự phòng sự cố môi trường cho các hạng mục còn tồn tại.
Đề xuất phương án xử lý nước thải, xử lý khí thải, phương án thu gom và xử lý chất thải rắn từ hoạt động của dự án.
Xây dựng chương trình giám sát môi trường.
Soạn thảo công văn, hồ sơ đề nghị phê duyệt Đề án
Thành lập đoàn kiểm tra thực tế về việc bảo vệ môi trường tại công ty
Thẩm định và Quyết định phê duyệt.
[Read More...]


 

Recent Comments

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2010 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Thanh Tu