Lâm Đồng hết trong lành





“Chất lượng” sống của Đà Lạt sẽ ra sao nếu nguồn nước bị ô nhiễm? Những ai “nặng lòng” với thành phố xinh đẹp này ắt hẳn không muốn điều đó xảy ra. Nhưng điều đó đang xảy ra, không nhanh đến mức hoang mang, nhưng những gì họ cảm nhận được từng ngày, cũng đủ để lo ngại.



Tại hội thảo Bảo vệ bền vững và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Đà Lạt lần thứ nhất (diễn ra năm 2013), các chuyên gia, các nhà khoa học đầu ngành đã từng đưa ra cảnh báo về hiện trạng môi trường nước và nguồn nước gây ô nhiễm cho thành phố sạch này với những lập luận và chứng cứ khoa học không thể xem nhẹ, nếu chúng ta vẫn còn thờ ơ và không ngăn chặn bằng những giải pháp về cả quản lý lẫn kỹ thuật.



Báo động từ những sự gia tăng



Nghiên cứu của Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường (Sở Tài Nguyên và Môi Trường Lâm Đồng) cho biết: Trong những năm qua, với sự gia tăng không ngừng về dân số (biến động cơ học do di dân), cùng với đó là sự gia tăng diện tích đất nông nghiệp trên thượng nguồn và sự thay đổi hình thức canh tác đất nông nghiệp cũng đã góp phần làm thay đổi chất lượng và số lượng nguồn nước theo chiều hướng thiếu tính bền vững.



Theo đó, từ bản đồ phân bố dân cư, cho thấy trên thượng nguồn các hồ chứa đều có dân cư sinh sống. Đặc biệt là tại lưu vực Cam Ly và hồ Xuân Hương (nơi dân cư tập trung khá đông). Đây là nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do sinh hoạt và sản xuất kinh doanh dịch vụ, bởi hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ nguồn nước mặt tại khu vực đều tăng lên theo hàng năm.



Đồng thời, từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bắt đầu từ năm 2010, khu vực thượng nguồn của các hồ chứa là hồ Đan Kia, hồ Xuân Hương, các hoạt động canh tác nông nghiệp phát triển rất nhanh về số lượng diện tích. Đây là một trong những nguồn “đóng góp” gây ô nhiễm môi trường nước chính trên địa bàn. Đặc biệt, khu vực canh tác nông nghiệp của người dân tại thượng nguồn đều có độ dốc lớn, dễ gây xói mòn do đây là khu vực có lượng mưa và cường độ mưa khá cao. Điều này sẽ làm tăng hàm lượng cặn lơ lửng và các chất có nguồn gốc Nitơ do quá trình rửa trôi phân bón đối với nguồn nước mặt trong mùa mưa tại khu vực.



Nỗi lo từ những chỉ số



Hiện nay, các khu vực có nguồn thải (chất thải làm vườn, sản xuất nông nghiệp) hầu hết tập trung tại các phường 7, 8, 9, 10, 11, 12. Các loại chất thải này bao gồm rau hỏng, cành cây hoa sau khi thu hoạch người dân thường tập trung sát bờ mương suối thành đống, thậm chí đổ thẳng xuống suối. Ngoài ra, việc gia tăng các hoạt động canh tác, sử dụng các loại phân bón khác nhau cùng với việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật đã dẫn đến hiện tượng một lượng N, P, K, các chất hữu cơ dư thừa và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật bị rửa trôi chuyển xuống mương, ao, hồ, sông suối, từ đó thâm nhập vào nguồn nước, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nguồn nước mặt. Một số bao bì và chai lọ thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng chưa được thu gom còn để lại trên đồng ruộng, khi có mưa lớn sẽ trôi xuống lưu vực gây ô nhiễm nặng nề môi trường nước.



Dù trong thời gian qua, tình hình thu gom và vận chuyển rác thải tại Đà Lạt diễn ra tương đối tốt trong các khâu của quá trình quản lý rác thải (mới đây nhất là đưa vào hoạt động nhà máy xử lý chất thải rắn), nhưng do nhiều yếu tố, chủ yếu là nhân lực và phương tiện, nên việc thu gom vẫn còn chưa triệt để. Rác chưa được phân loại và chế biến mà hầu hết đều được đổ tập trung vào bãi rác. Việc thu gom rác thải gặp nhiều khó khăn ở những nơi dân cư phân bố trên đồi cao hoặc ở dưới sâu thung lũng. Nhiều người dân thường vẫn có “thói quen” cũ khó bỏ, tiện tay vứt rác xuống cống, rãnh, sông suối gây tắc nghẽn và ô nhiễm dòng chảy. Thêm vào đó, chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn, các khu du lịch, vui chơi giải trí, thương mại không được quản lý, thu gom cũng là tác nhân không nhỏ làm cho nguồn nước thành phố thêm phần ô nhiễm.



Theo kết quả trắc quan của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường thông qua chỉ số WQI (Water Quality index) của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường quy định thì chất lượng nước Cam Ly, đặc biệt là khu vực cầu Cẩm Đô chất lượng nước rất kém, tiếp đến là khu vực thác Cam Ly và cầu Cam Ly và thường bị ô nhiễm nặng nề hơn vào mùa mưa. Với chất lượng nước hiện tại không thể đáp ứng được yêu cầu về phục vụ du lịch và cảnh quan. Tương tự, nước hồ Xuân Hương cũng bị ô nhiễm nặng hơn về mùa mưa, nguồn gây ô nhiễm chủ yếu do nước thải sinh hoạt của các khu dân cư lân cận đổ vào hồ và hoạt động canh tác về thượng nguồn. Dù mới được nạo vét, nhưng chất lượng nước của “trái tim thành phố” vẫn ngày càng càng suy giảm.



Riêng với các hồ cấp nước sinh hoạt thì tình hình vẫn đang ở trong trạng thái “được kiểm soát”. Chỉ số WQI cho thấy, tại ba hồ Chiến Thắng, Tuyền Lâm và hồ Đan Kia thì chỉ có khu vực Cầu Suối Tía (hồ Tuyền Lâm) và hồ Chiến Thắng có dấu hiệu bị ô nhiễm nhưng vẫn sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, tuy nhiên cần biện pháp xử lý phù hợp...



Để không “mất bò mới lo làm chuồng”



Bên cạnh khí hậu, cảnh quan, có thể nói nước có một vai trò quyết định tới chất lượng sống, chất lượng du lịch và “thương hiệu” của Đà Lạt. Để viễn cảnh như câu thành ngữ trên không xảy ra, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu “nặng lòng” với Đà Lạt đã đưa ra rất nhiều giải pháp để tìm phương án hữu hiệu nhất cho nguồn nước của thành phố không rơi vào tình trạng ô nhiễm nặng nề như ở các thành phố lớn khác hiện nay.



Vấn đề đặt ra là cần phải có các giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt của khu dân cư thượng nguồn tại các suối, hồ, đặc biệt là tại các hồ Tuyền Lâm, Đan Kia, những hồ hiện đang cấp nước sinh hoạt chính cho TP Đà Lạt và vùng phụ cận. Nâng cấp hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý triệt để chất thải rắn; cải tạo và bảo dưỡng các hệ thống thoát nước, chỉnh trang hệ thống mương, suối thoát nước trên địa bàn thành phố; tiếp tục đầu tư các công trình xử lý chất thải hiệu quả, đạt tiêu chuẩn về môi trường.


Theo ông Lương Văn Ngự - Phó GĐ Sở Tài Nguyên và Môi Trường Lâm Đồng, về lâu dài cần quản lý tổng hợp tài nguyên nước, lồng ghép giải pháp về quản lý, giải pháp kỹ thuật và quy hoạch chiến lược trong bảo vệ bền vững và khai thác hiệu quả tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận.



Do các đe dọa và thử thách ngày càng lớn nguồn nước nói chung, ở Đà Lạt nói riêng, các cơ quan quản lý tài nguyên và cộng đồng địa phương cần phải có những mối liên kết tham gia (điều này là vô cùng cần thiết), có cam kết về mặt pháp lý và đầu tư tài chính một cách hiệu quả nhất trong việc kiểm kê nguồn nước, xây dựng cơ sở dữ liệu cho tài nguyên nước, từ đó có hoạch định định chính sách bảo vệ và phát triển. Với giải pháp về quản lý, công tác bảo vệ môi trường nước tại các khu vực thượng nguồn của các hồ cấp nước sinh hoạt cũng cần phải “gắn bó mật thiết” (trên quan hệ cộng sinh) với quy hoạch phát triển chung của địa phương. Đặc biệt, cần hạn chế quy hoach phát triển đô thị và nông nghiệp tại khu vực thượng nguồn của các hồ này.



Theo kiến nghị của Trung tâm Quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh, hiện nay thượng nguồn Cam Ly đang phát triển mạnh về canh tác nông nghiệp công nghệ cao với việc xây dựng dày đặc các nhà kính, nhà lưới. Đây cũng là những giải pháp giảm ô nhiễm môi trường do tác động của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, rất có thể điều này cũng đang tiềm ẩn của sự ảnh hưởng đến nguồn nước do làm giảm diện tích thấm nước khi mưa, làm tăng dòng chảy mặt gây xói mòn, rửa trôi và làm dòng chảy ngầm gây cạn kiệt nguồn nước. Vì vậy cần phải có một nghiên cứu khoa học lớn cho vấn đề này.



Tất cả những giải pháp, bài học đều chỉ mang tính tương đối và là “tài liệu” tham khảo, dù không ai xem nhẹ tính chất quan trọng của chúng. Bên cạnh “cái tâm” của những nhà quản lý trong quy hoạch đối với thành phố, thì ý thức của mỗi du khách, đặc biệt là người dân đang sinh sống và sản xuất nông nghiệp tại đây, mới là những “nguồn lực” chính để giúp cho nguồn nước Đà Lạt có được sự trong lành.
[Read More...]


Nguy cơ Đạt Lạt nhiễm bẩn




“Chất lượng” sống của Đà Lạt sẽ ra sao nếu nguồn nước bị ô nhiễm? Những ai “nặng lòng” với thành phố xinh đẹp này ắt hẳn không muốn điều đó xảy ra. Nhưng điều đó đang xảy ra, không nhanh đến mức hoang mang, nhưng những gì họ cảm nhận được từng ngày, cũng đủ để lo ngại.




Tại hội thảo Bảo vệ bền vững và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Đà Lạt lần thứ nhất (diễn ra năm 2013), các chuyên gia, các nhà khoa học đầu ngành đã từng đưa ra cảnh báo về hiện trạng môi trường nước và nguồn nước gây ô nhiễm cho thành phố sạch này với những lập luận và chứng cứ khoa học không thể xem nhẹ, nếu chúng ta vẫn còn thờ ơ và không ngăn chặn bằng những giải pháp về cả quản lý lẫn kỹ thuật.



Báo động từ những sự gia tăng



Nghiên cứu của Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường (Sở Tài Nguyên và Môi Trường Lâm Đồng) cho biết: Trong những năm qua, chất lượng và số lượng nguồn nước theo chiều hướng thiếu tính bền vững do sự gia tăng không ngừng về dân số (biến động cơ học do di dân), cùng với đó là sự gia tăng diện tích đất nông nghiệp trên thượng nguồn và sự thay đổi hình thức canh tác đất nông nghiệp.



Đây là nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do sinh hoạt và sản xuất kinh doanh dịch vụ, bởi hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ nguồn nước mặt tại khu vực đều tăng lên theo hàng năm do sự phân bố dân cư không đồng đều. Đặc biệt là tại lưu vực Cam Ly và hồ Xuân Hương (nơi dân cư tập trung khá đông).



Đồng thời, từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bắt đầu từ năm 2010, khu vực thượng nguồn của các hồ chứa là hồ Đan Kia, hồ Xuân Hương, các hoạt động canh tác nông nghiệp phát triển rất nhanh về số lượng diện tích. Đây là một trong những nguồn “đóng góp” gây ô nhiễm môi trường nước chính trên địa bàn. Đặc biệt, khu vực canh tác nông nghiệp của người dân tại thượng nguồn đều có độ dốc lớn, dễ gây xói mòn do đây là khu vực có lượng mưa và cường độ mưa khá cao. Điều này sẽ làm tăng hàm lượng cặn lơ lửng và các chất có nguồn gốc Nitơ do quá trình rửa trôi phân bón đối với nguồn nước mặt trong mùa mưa tại khu vực.



Để không “mất bò mới lo làm chuồng”



Bên cạnh khí hậu, cảnh quan, có thể nói nước có một vai trò quyết định tới chất lượng sống, chất lượng du lịch và “thương hiệu” của Đà Lạt. Để viễn cảnh như câu thành ngữ trên không xảy ra, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu “nặng lòng” với Đà Lạt đã đưa ra rất nhiều giải pháp để tìm phương án hữu hiệu nhất cho nguồn nước của thành phố không rơi vào tình trạng ô nhiễm nặng nề như ở các thành phố lớn khác hiện nay.



Vấn đề đặt ra là cần phải có các giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt của khu dân cư thượng nguồn tại các suối, hồ, đặc biệt là tại các hồ Tuyền Lâm, Đan Kia, những hồ hiện đang cấp nước sinh hoạt chính cho Tành phố Đà Lạt và vùng phụ cận. Nâng cấp hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý triệt để chất thải rắn; cải tạo và bảo dưỡng các hệ thống thoát nước, chỉnh trang hệ thống mương, suối thoát nước trên địa bàn thành phố; tiếp tục đầu tư các công trình xử lý chất thải hiệu quả, đạt tiêu chuẩn về môi trường.



Do các đe dọa và thử thách ngày càng lớn nguồn nước nói chung, ở Đà Lạt nói riêng, các cơ quan quản lý tài nguyên và cộng đồng địa phương cần phải có những mối liên kết tham gia (điều này là vô cùng cần thiết), có cam kết về mặt pháp lý và đầu tư tài chính một cách hiệu quả nhất trong việc kiểm kê nguồn nước, xây dựng cơ sở dữ liệu cho tài nguyên nước, từ đó có hoạch định định chính sách bảo vệ và phát triển. Với giải pháp về quản lý, công tác bảo vệ môi trường nước tại các khu vực thượng nguồn của các hồ cấp nước sinh hoạt cũng cần phải “gắn bó mật thiết” (trên quan hệ cộng sinh) với quy hoạch phát triển chung của địa phương. Đặc biệt, cần hạn chế quy hoach phát triển đô thị và nông nghiệp tại khu vực thượng nguồn của các hồ này.



Theo kiến nghị của Trung tâm Quan trắc Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh, hiện nay thượng nguồn Cam Ly đang phát triển mạnh về canh tác nông nghiệp công nghệ cao với việc xây dựng dày đặc các nhà kính, nhà lưới. Đây cũng là những giải pháp giảm ô nhiễm môi trường do tác động của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, rất có thể điều này cũng đang tiềm ẩn của sự ảnh hưởng đến nguồn nước do làm giảm diện tích thấm nước khi mưa, làm tăng dòng chảy mặt gây xói mòn, rửa trôi và làm dòng chảy ngầm gây cạn kiệt nguồn nước. Vì vậy cần phải có một nghiên cứu khoa học lớn cho vấn đề này.



Tất cả những giải pháp, bài học đều chỉ mang tính tương đối và là “tài liệu” tham khảo, dù không ai xem nhẹ tính chất quan trọng của chúng. Bên cạnh “cái tâm” của những nhà quản lý trong quy hoạch đối với thành phố, thì ý thức của mỗi du khách, đặc biệt là người dân đang sinh sống và sản xuất nông nghiệp tại đây, mới là những “nguồn lực” chính để giúp cho nguồn nước Đà Lạt có được sự trong lành.
[Read More...]


Lò đốt rác thải sinh hoạt được chế tạo thành công



Sau sự thành công của phát minh máy nghiền rác thải 2012, anh Trần Văn Kiều (sinh 1977) ở xã Xuân Tiến, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định vẫn luôn tìm tòi sáng tạo và mới đây chế tạo thành công lò đốt rác sinh hoạt. Hai phát minh của anh Kiều là máy nghiền rác thải sinh hoạt và lo đốt rác thải sinh hoạt đã trở nên phổ biến, tiện lợi trong việc giải quyết các vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt của địa phương.

Lò đốt rác thải sinh hoạt LOSIHO do anh Trần Văn Kiều và các công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn Tân Thiên Phú (chuyên sản xuất các loại máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi) sản xuất, xử lý được các loại rác thải sinh hoạt bằng phương pháp đốt trên cơ sở tự nhiệt phân và tự sinh năng lượng.

Lò đốt gồm buồng sơ cấp và buồng thứ cấp. Trong đó, buồng sơ cấp gồm không gian sấy, không gian cháy chính có nhiệt độ dao động từ 450 - 650 độ C; buồng đốt thứ cấp gồm không gian cháy kiệt, khoang lưu khí có nhiệt độ dao động từ 650 – 1000 độ C. Lò được xây bằng gạch chịu lửa, gạch cách nhiệt, xi măng chịu nhiệt, bông gốm chịu được nhiệt độ lên tới 1450 độ C.






Vận hành máy xử lý rác thải sinh hoạt tại Công ty TNHH Tân Thiên Phú, xóm 6, xã Xuân Tiến (Xuân Trường)


Anh Kiều cho biết, quy trình vận hành của lò đốt bắt đầu bằng việc sử dụng các loại vật liệu khô như giấy, củi hoặc các loại rác khô để nhóm lò. Lò đốt có các cửa, van dung để điều chỉnh áp suất, gió, không khí. Nhờ việc kiểm soát và cung cấp oxy trong quá trình cháy được điều khiển bằng việc đóng mở các cửa cấp gió bên dưới hoặc bên trên thân lò nên lò đốt tự nhiệt phân và sinh năng lượng để tự đốt cháy. Lượng nhiệt duy trì quá trình cháy trong lò do bản thân rác thải sinh hoạt tạo ra trên cơ sở tận dụng tối đa lượng nhiệt bức xạ, lượng nhiệt trong quá trình phản ứng hóa học phân hủy rác mà không cần dùng đến bất kỳ nguồn năng lượng nào từ bên ngoài. Khi các cửa được điều chỉnh đóng mở phù hợp sẽ tạo thành sự đối lưu không khí với nhiệt độ bên trong lò. Khi nhiệt độ trong lò lên cao, khí oxy theo van được đưa vào trong lò nhằm duy trì nhiệt độ đốt cháy tự nhiên. Khi nhiệt độ buồng đốt sơ cấp từ 300 độ C trở lên, lò sẽ bắt đầu quá trình vận hành, rác thải sinh hoạt đưa vào lò sẽ được sấy khô và đốt cháy trong buồng đốt sơ cấp. Để cháy kiệt các khí sau khi chưa cháy hết trong buồng sơ cấp, các khí này sẽ được dẫn sang buồng đốt thứ cấp, cháy tiếp nhờ nhiệt lượng bức xạ từ tường lò và nguồn nhiệt tích lũy trên 500 độ C trong kết cấu của lò đốt, nâng nhiệt độ của buồng đốt đạt từ 650 – 1000 độ C. Với nhiệt độ này, mùi, khói khí độc hại sẽ bị bẻ gãy và phân hủy triệt để, không làm ảnh hưởng đến môi trường sống. Sau khi rác được đốt thành tro, số tro này có thể được sàng lọc để bón ruộng hoặc cho xuống hố chôn lấp.





Với quy mô nhỏ gọn và quá trình vận hành đơn giản, lò đốt rác thải này cũng phù hợp với việc đốt tiêu hủy các loại rác thải sinh hoạt sản sinh ra ngay trong ngày tại thị trấn, xã, cộng đồng khu vực đông dân cư với năng suất 300 – 500kg/giờ, tương đương với khoảng 2m3/giờ, nhằm mục đích hạn chế tình trạng ô nhiễm mùi, ô nhiễm nguồn nước ngầm do rác hữu cơ bị phân hủy và hạn chế thể tích rác được chôn lấp. Ngoài ra, lò đốt cũng có hệ thống xử lý khí thải trong và sau quá trình đốt.


Anh Kiều cho biết: Trong buồng thứ cấp luồng khí thải có nhiệt độ cao sẽ đi qua một thiết bị trao đổi nhiệt kiểu ống chum nhằm giảm nhiệt độ trước khi được đưa vào thiết bị xử lý. Ra khỏi thiết bị trao đổi nhiệt khí thải tiếp tục đi vào tháp lọc bụi để xử lý bụi và một phần các khí độc hại. Sau đó, khí được đưa vào tháp hấp thụ để hấp thụ khí CO. Ở tháp này lượng khí độc và mùi được xử lý, cuối cùng lượng khí sạch ra khỏi tháp và thải ra ngoài môi trường.


Trước khi máy được đưa vào sử dụng, Trung tâm Quan trắc và Phân tích tài nguyên môi trường, Sở Tài Nguyên – Môi trường Nam Định và Trung tâm Quan trắc môi trường thuộc Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên - Môi trường cũng đã tiến hành lấy mẫu khí thải để kiểm tra và cho kết quả các chỉ tiêu đều không vượt quá tiêu chuẩn quy định.


Lò đốt rác thải sinh hoạt do anh Kiều chế tạo có ưu điểm là vận chuyển, lắp đặt nhanh gọn, thuận tiện. Ngoài ra, lò có kích thước nhỏ gọn, hiệu suất sử dụng cao, đốt và xử lý các loại rác thải nhanh không bị dồn, đọng rác. Mặt bằng đặt lò nhỏ và toàn bộ mặt bằng cho một lò đốt rác khép kín khoảng 100m2 nên tiết kiệm được các chi phí và thời gian xây dựng. Bên cạnh đó, lò đốt rác thải này có tính kinh tế cao vì hệ thống công nghệ này không phụ thuộc vào bất kỳ nguồn năng lượng nào như dầu, điện hay khí ga…


Không những vậy, lò đốt có khả năng xử lý rác thải nhanh trong vòng 24h, rất thuận tiện với cộng đồng sinh hoạt từng vùng, từng khu vực công nghiệp, nhà máy hoặc cộng đồng dân cư khoảng 20.000 người. Lò đốt thiết kế có thể đốt rác thải sinh hoạt tại gia đình, tại các khu chợ, rác thải công nghiệp ít độc hại và nhiều loại rác thải khác. Lò đốt cũng giúp xử lý triệt để các vấn đề rác thải của cộng đồng, bảo vệ môi trường sống, thay thế các cách xử lý rác thải thông thường là chôn vùi vốn là cách tốn kém và ảnh hưởng nhiều đến môi trường xung quanh.


Sau khi đăng ký quyền tác giả vào năm 2013, đến nay, lò đốt rác thải đã được lắp đặt và đưa vào sử dụng ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Nam Định như Xuân Tiến (Xuân Trường); Hải Xuân, Hải Thanh (Hải Hậu)…và một số tỉnh, thành khác như Hà Nội, Phú Thọ.
[Read More...]


30 triệu tấn rác thải phóng xạ tồn đọng sau 4 năm thảm họa



Chất thải phóng xạ hạt nhân sau  4 năm thảm họa sóng thần, động đất vẫn đang được chính quyền địa hương xử lý ngày 11/3.


Mùn lá tre và đất bị nhiễm phóng xạ đang được 1 công nhân đang cào


Hàng ngày, các đội công nhân vẫn phải dọn dẹp xử lý rác thải bị ô nhiễm bởi chất phóng xạ bỏ vào các bao nhựa đen, xanh và chất thành đống bỏ ở các ruộng lúa bỏ hoang và các khu đất trống của người dân sống tại các thị trấn Okuma, Tomioka, Naraha và Namie thuộc huyện Futaba, tỉnh Fukushima.

Theo báo Anh International Business Times, chính phủ Nhật đã chi 15 tỷ USD để dọn dẹp chất thải phóng xạ từ vụ rò rỉ tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi thuộc tỉnh Fukushima. Đến nay, lượng rác thải ô nhiễm phóng xạ gom cất trong các bao nhựa lên đến 30 triệu tấn.

Chính quyền tỉnh Fukushima họp lấy ý kiến khoảng 2.300 dân ở Futaba để dành 1,6km2 đất tập kết rác thải và sẽ chi 2,5 tỷ USD trong các chính sách giải phóng mặt bằng và đền bù cho người dân.

Nhưng người dân vẫn lo ngại đống chất thải khổng lồ trên dọn dẹp và tiêu hủy hết như thế nào trong vòng 30 năm tới như cam kết từ chính quyền địa phương.

Số liệu chính thức của Cơ quan cảnh sát quốc gia Nhật tính đến ngày 1-3-2015 cho biết sau 4 năm thảm họađộng đất và sóng thần, số người chết được xác định là 15.890 người, trong đó riêng địa hạt Fukushima là 1.611 người.

Phóng sự ảnh do hãng tin Reuters ghi lại tháng 3-2015 cho thấy người dân vẫn còn phải “đối mặt” với rác thải ô nhiễm phóng xạ sau 4 năm thảm họa hạt nhân Fukushima diễn ra:



Các xe cẩu chuyên dụng xúc xử lý rác thải bị ô nhiễm phóng xạ tại thị trấn Namie

Các công nhân mặc kín trang phục bảo hộ lao động đang kiểm tra, xử lý rác thải bị ô nhiễm phóng xạ tại thị trấn Tomioka - Ảnh: Reuters

Các bao nhựa rác thải bị ô nhiễm phóng xạ được tập kết tại một khu vực đất trống của dân ở thị trấn Tomioka - Ảnh: Reuters

Các bao nhựa rác thải bị ô nhiễm phóng xạ được tập kết tại Tomioka - Ảnh: Reuters

Ước tính có đến 30 triệu tấn rác thải bị ô nhiễm phóng xạ được tập kết - Ảnh: Reuters

Ông Norio Kimura, 49 tuổi mất cha, vợ và con gái sau thảm họa kém động đất, sóng thần hồi 11-3-2011 đang kiểm tra mức độ ô nhiễm phóng xạ tại một khu đổ rác thải gần nhà ông ở thị trấn Okuma - Ảnh: Reuters

Ông Norio Kimura “khoe” ảnh của con gái Yuna mất do động đất và sóng thần 11-3-2011- Ảnh: Reuters

Ông Norio Kimura cầu nguyện bên mộ người thân mất do động đất và sóng thần 11-3-2011 - Ảnh: Reuters

Quang cảnh chụp từ trên không cho thấy các bao nhựa rác thải ô nhiễm phóng xạ chất đầy một khu đất ở thị trấn Naraha
[Read More...]


 

Recent Comments

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2010 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Thanh Tu